Vay vốn quốc tế đang trở thành kênh huy động được nhiều doanh nghiệp lớn hướng đến, với hàng tỷ USD “chực chờ” đổ vào Việt Nam.

Dù đồng USD có xu hướng mạnh lên trong ngắn hạn do xung đột Trung Đông, nhưng giá vốn quốc tế đã về mức thấp hơn. Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh gọi vốn quốc tế.
TCBS vừa hoàn tất ký kết và sẵn sàng giải ngân khoản vay hợp vốn tín chấp với hạn mức kỷ lục 488 triệu USD (khoảng 12.800 tỷ đồng). Đây là khoản giải ngân lớn nhất dành cho một công ty chứng khoán ở Việt Nam từ trước đến nay, cho thấy các nhà cho vay quốc tế đặt niềm tin lớn vào doanh nghiệp và triển vọng Việt Nam.
Hàng loạt doanh nghiệp khác cũng đang hướng đến kênh vốn quốc tế rộng mở này. Ngày 8/4 vừa qua, HĐQT Vingroup đã ban hành Nghị quyết về kế hoạch phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 350 triệu USD, với mệnh giá 200.000 USD/trái phiếu và có kỳ hạn 5 năm. Đây là loại trái phiếu "không chuyển đổi, không kèm theo chứng quyền, không có bảo đảm”, có quyền chọn nhận cổ phiếu VPL và sẽ niêm yết tại thị trường chứng khoán Vienna (Áo). Trước đó, vào cuối năm 2025, Vingroup cũng đã phát hành thành công 325 triệu USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 5 năm niêm yết tại Vienna với cấu trúc quyền chọn nhận cổ phiếu VPL.
Ở nhóm ngân hàng, cổ đông VIB mới đây đã thông qua kế hoạch huy động 1 tỷ USD vốn nước ngoài, bao gồm trái phiếu quốc tế nhằm đa dạng hóa nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào thị trường trong nước và tối ưu chi phí lãi vay. Hay như HDBank có gần 1 tỷ USD vốn xanh được rót từ các định chế quốc tế những năm qua, cũng dự kiến phát hành trái phiếu xanh quốc tế 300 triệu USD. Đây là sản phẩm hợp tác đầu tiên giữa HDBank và Sở Giao dịch Chứng khoán London, hướng đến mở đường cho hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn lực trên thị trường toàn cầu…
Chia sẻ về triển vọng tiếp cận, huy động vốn trên thị trường nợ toàn cầu, ông Lê Quang Trung - Phó Tổng Giám đốc VIB cho biết, áp lực lạm phát, tỷ giá và biến động toàn cầu đã khiến lãi suất hệ thống tạo lập một mặt bằng mới và kỷ nguyên tiền rẻ đã kết thúc. Mặt bằng mới này xuất phát từ rủi ro cấu trúc hệ thống, cụ thể là chênh lệch giữa huy động và cho vay.
“Những năm trước, tín dụng tăng trưởng rất nóng, bình quân toàn hệ thống đạt 18-19% liên tục nhiều năm, thậm chí một số ngân hàng tăng 34-35%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng huy động từ dân cư và doanh nghiệp lại không theo kịp, tạo ra mức chênh lệch khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng bắt buộc phải tìm cách bù đắp khoản thiếu hụt này. Đơn cử như VIB, ngoài huy động từ thị trường 1, ngân hàng đang đẩy mạnh vay vốn từ nước ngoài. Nhiều ngân hàng khác cũng đang có động thái tương tự”, ông Trung cho biết.
Điều đáng nói, giá vốn quốc tế vẫn đã về mức thấp hơn và nhà phát hành có thể tiếp cận, chấp nhận chi trả. Trước đây, lãi suất vay nước ngoài thường cao hơn mặt bằng trong nước do FED neo lãi suất ở mức 4,5 - 4,75%, cộng thêm phần bù rủi ro tín dụng thì chi phí vốn quá cao, không thể vay được. Tuy nhiên, sau 3 đợt cắt giảm lãi suất của FED trong năm 2025, lãi suất cơ sở có thể về mức 3,75%. Tính thêm biên độ NIM và chi phí hoán đổi ngoại tệ (swap), tổng chi phí vốn sẽ rơi vào khoảng 8,5 - 8,75%/năm.
Ông Lê Quang Trung tiết lộ, mới đây, khi thăm dò thị trường cho một thương vụ trị giá 500 triệu USD, rất nhiều định chế tài chính quốc tế ngỏ ý muốn cho vay. Với mức lãi suất cho vay USD khoảng 5,75 - 6%/năm, họ sẵn sàng giải ngân hàng tỷ USD vào Việt Nam. Dù VIB mới ở giai đoạn thăm dò và chưa ký kết chính thức, lượng đăng ký tham gia đã rất lớn.
Từ phía nhà đầu tư sẵn sàng rót vốn, ông Trung cho biết nhà đầu nhận định Việt Nam có sức hút lớn với 2 yếu tố chính: Thứ nhất là kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp và lọt vào rổ chỉ số MSCI. Quan trọng hơn, kỳ vọng nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức BBB sẽ là thỏi nam châm thu hút dòng vốn toàn cầu. Các nhà đầu tư đều muốn đón đầu xu hướng này. Nhờ đó, Việt Nam được hưởng mức bù rủi ro tín dụng thấp hơn thực tế. Các quốc gia như Indonesia hay Philippines rất bất ngờ khi thấy hồ sơ rủi ro của Việt Nam cao hơn nhưng chi phí vay vốn lại thấp hơn họ. Thứ hai là mục tiêu tăng trưởng GDP năng động của Việt Nam. Đối với nhà đầu tư quốc tế, câu chuyện tăng trưởng là yếu tố cực kỳ quan trọng, khác biệt hoàn toàn với sự chững lại của các nước trong khu vực như Thái Lan. Việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao tạo ra một câu chuyện hấp dẫn.
Về nguồn gốc dòng tiền, vốn từ châu Âu và Mỹ chưa vào nhiều, nhưng dòng tiền từ châu Á lại rất dồi dào. Nguồn vốn từ Đài Loan, Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc đang quay trở lại Việt Nam. Các nhà đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông, sau khi đổ lượng lớn vốn vào Mỹ, đang có xu hướng đa dạng hóa danh mục sang Đông Nam Á vì tính ổn định. Ngoài ra, Singapore đóng vai trò như một trung tâm tài chính trung chuyển, thu hút tiền từ châu Âu và Mỹ để tái đầu tư vào khu vực. Lượng vốn này vô cùng lớn ước có thể lên tới 3 tỷ USD.
Với khả năng tiếp cận vốn quốc tế chi phí phù hợp, ổn định và dài hạn, đây cũng là một cơ sở để các ngân hàng tự tin sẽ không chịu áp lực phải huy động vốn trong nước với lãi suất 9-10%/năm. Động lực tăng lãi suất huy động trong nước giảm sẽ là tiền đề quan trọng để việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế cũng được kỳ vọng có chi phí ổn định, phù hợp.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cũng lưu ý để một thương vụ huy động như vậy từ khởi động đến chính thức nhận vốn, bao gồm các thủ tục pháp lý và tài liệu vay, thường mất khoảng 60 ngày để hoàn tất. Do đó, cơ hội huy động vốn trên thị trường nợ vẫn chờ đợi các doanh nghiệp tăng tốc ngay từ các quyết định đặt ra ở mùa đại hội cổ đông này.