Dư địa mở rộng hợp tác giữa Việt Nam và Nga còn rất lớn, ngoài những lĩnh vực chủ chốt như năng lượng, dầu khí, điện hạt nhân,…

Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với ông Gennady Stepanovich Bezdetko, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam xung quanh vấn đề này đầu Xuân Bính Ngọ.
Dẫn đầu trong lĩnh vực hợp tác này là liên doanh Vietsovpetro - đơn vị đang khai thác các mỏ dầu khí trên thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam. Trong suốt hơn 45 năm hoạt động, Vietsovpetro vẫn duy trì hiệu quả kinh doanh và mang lại nguồn thu hàng tỷ USD cho ngân sách Nhà nước của hai quốc gia. Cùng đồng hành thành công với Vietsovpetro là dự án “đối xứng” tại Liên bang Nga - Công ty Rusvietpetro.
Một sự kiện quan trọng trong tháng 5/2025 là Nga và Việt Nam ký kết gói thỏa thuận liên chính phủ để các doanh nghiệp nói trên tiếp tục hoạt động đến năm 2050. Triển khai các văn kiện này sẽ là nhiệm vụ ưu tiên trong năm 2026.
- Chúng ta đang chứng kiến nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn năng lượng, đặc biệt trong những lĩnh vực cần sử dụng các trung tâm dữ liệu lớn. Do đó, việc phát triển điện hạt nhân vì mục đích hòa bình vẫn là nhu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Nga sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong lĩnh vực này, thưa ông?
Theo quan điểm của chúng tôi, việc xây dựng ngành công nghiệp điện hạt nhân quốc gia là một trong những giải pháp tối ưu nhất để giải quyết các vấn đề năng lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế và đời sống xã hội.
Như các quý vị đã biết, trong chuyến thăm Liên bang Nga trong tháng 5/2025 của Tổng Bí thư Tô Lâm, hai bên đã nhất trí triển khai hợp tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 với sự hỗ trợ của Tập đoàn Rosatom của Nga. Thực hiện các thỏa thuận đạt được ở cấp cao nhất, các cơ quan chức năng của hai nước đã bắt đầu tham vấn về việc soạn thảo hiệp định liên chính phủ chuyên ngành Nga – Việt.
Công nghệ hạt nhân không chỉ phục vụ cho sản xuất điện năng mà còn được ứng dụng trong y học hạt nhân, sản xuất vật liệu mới, xử lý nông sản khỏi sâu bệnh và nhiều lĩnh vực khác. Trong bối cảnh này, chúng tôi đặc biệt coi trọng một dự án quy mô lớn khác là xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ Hạt nhân tại Việt Nam.

- Ngoài lĩnh vực nhiên liệu – năng lượng, Nga và Việt Nam dự kiến tăng cường hợp tác thương mại, đầu tư trong những ngành nào khác nhằm tiếp tục mở rộng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với tầm nhìn đến năm 2030, thưa ông?
Từ năm 2012, quan hệ Nga – Việt đã được nâng cấp lên mức đối tác chiến lược toàn diện, tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả lĩnh vực thương mại – kinh tế. Liên doanh Nga-Việt “GAZ–Thanh Dat” kể từ khi đi vào sản xuất tại thành phố Đà Nẵng đã xuất xưởng và tiêu thụ trên thị trường nội địa Việt Nam hơn 3.000 xe các loại…
Các doanh nghiệp Nga sẵn sàng xem xét tham gia vào quá trình phát triển và hiện đại hóa hạ tầng giao thông của Việt Nam, bao gồm mạng lưới đường sắt, tàu điện ngầm và hệ thống cảng biển.
Bên cạnh đó, thương mại nông sản giữa Nga và Việt Nam ghi nhận những kết quả ấn tượng. Tính đến đầu tháng 12/2025, kim ngạch trao đổi song phương đã vượt mốc 1 tỷ USD.
Ngoài ra, hai bên có nhiều tiềm năng hợp tác trong thương mại thực phẩm, dược phẩm, phân bón, gỗ xẻ, phương tiện giao thông điện và nhiều mặt hàng khác với danh mục rất đa dạng. Đặc biệt, trong 11 tháng đầu năm 2025, số lượng du khách Nga đến Việt Nam đã tăng gần gấp 3 lần, vượt 590.000 lượt người.
- Các doanh nghiệp Nga đang hoạt động tại Việt Nam gặp phải những khó khăn gì? Ông có thể khuyến nghị gì đối với Chính phủ Việt Nam và các bộ, ngành liên quan để tháo gỡ những trở ngại này?
Hiện nay, khó khăn lớn nhất vẫn là việc bảo đảm các kênh thanh toán ổn định và an toàn cho các giao dịch ngoại thương. Vấn đề này hiện đang gặp một số trở ngại. Các bộ, ngành và tổ chức tài chính – ngân hàng của hai nước đang tìm kiếm giải pháp chấp nhận được cho cả hai bên, song tiếc rằng cho đến nay vẫn chưa có phương án mang tính phổ quát.
Như đã đề cập, để vượt qua những khó khăn do các biện pháp trừng phạt gây ra, các nước thành viên EAEU đã áp dụng rộng rãi cơ chế thanh toán bằng đồng tiền quốc gia. Việc sử dụng rộng rãi hơn thẻ thanh toán MIR của Nga tại Việt Nam sẽ góp phần đáng kể vào việc gia tăng số lượng công dân Nga đến Việt Nam du lịch.
Chúng tôi cũng đặt nhiều kỳ vọng vào sự hỗ trợ của phía Việt Nam trong việc bảo đảm hoạt động ổn định và hiệu quả của Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga.
- Việt Nam cần thực hiện những biện pháp gì để gia tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới nói chung và từ Nga nói riêng, thưa ông?
Chúng tôi cho rằng trong thời gian tới, việc ứng dụng các giải pháp số trong quản lý Nhà nước sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng. Việc xây dựng “chính phủ số”, “cơ chế một cửa” sẽ giúp đơn giản hóa và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ mà trước đây phải mất nhiều thời gian xem xét ở các cơ quan chức năng. Tính minh bạch và khả năng tiếp cận của các công cụ này sẽ là động lực thúc đẩy dòng vốn đầu tư.
Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin đầy đủ, dễ tiếp cận về các điều kiện và yêu cầu trong lĩnh vực đầu tư cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chúng tôi tin rằng việc duy trì đối thoại thường xuyên giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, cũng như việc tổ chức hoặc tham gia các hội chợ, triển lãm tại hai nước sẽ giúp các bên hiểu rõ hơn về tiềm năng và nhu cầu của nhau.