Tăng trưởng cao chỉ có thể bền vững khi kinh tế vĩ mô ổn định, an toàn tài chính, năng lực doanh nghiệp và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Ông Đặng Xuân Thanh - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh như vậy tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển”.
Dẫn số liệu của Cục Thống kê về phát triển kinh tế 6 tháng đầu của năm với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực, ông Đặng Xuân Thanh nhận định, nền kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi và tăng trưởng với sự đóng góp đồng thời của sản xuất công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và thương mại quốc tế.

Tuy nhiên, những kết quả tích cực chưa phản ánh đầy đủ chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Phía sau các chỉ số khả quan còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được phân tích một cách khách quan, toàn diện và khoa học.
Đặc biệt, bối cảnh kinh tế quốc tế tiềm ẩn nhiều bất định đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhận diện, phân tích để có giải pháp chủ động ứng phó với các rủi ro. Một trong những vấn đề đó là cán cân thương mại hàng hóa đang chuyển sang nhập siêu lớn. Điều này phản ánh nhu cầu nhập khẩu đầu vào cho sản xuất tăng mạnh song cũng đặt ra áp lực tỷ giá, lạm phát nhập khẩu và mức độ phụ thuộc vào nguyên liệu, máy móc, linh kiện từ bên ngoài.
Phân tích sâu hơn nội dung này, ông Phạm Anh Tuấn - Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế Giới cho biết: thương mại là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu duy trì ở mức cao. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo đang dẫn dắt tăng trưởng của toàn nền kinh tế.
Ở chiều ngược lại, từ con số nhập siêu tăng mạnh, theo ông Phạm Anh Tuấn, khoảng 94% là tư liệu sản xuất phục vụ mở rộng đầu tư và đơn hàng xuất khẩu trong những tháng tiếp theo. Trong ngắn hạn, nhập siêu chưa phải là vấn đề lớn nhưng có thể tạo áp lực lớn hơn lên tỷ giá, dự trữ ngoại hối.
Không chỉ nhập siêu, ông Đào Ngọc Tiến - Phó Hiệu trưởng Đại học Ngoại thương đề cập một số lát cắt khác cần lưu tâm trong hoạt động thương mại. Trong đó, cơ cấu xuất khẩu đang thể hiện sự phân hóa rõ nét.

Cụ thể, nhóm điện tử, linh kiện điện tử tăng trưởng đột biến vượt trội, là động lực chính tăng kim ngạch xuất khẩu. Một số ngành hàng nông sản có thế mạnh tăng trưởng 2 con số, ở mức trên 10% thì một số ngành truyền thống như dệt may, da giày tăng nhẹ. Thực tế này cho thấy cấu trúc xuất khẩu dựa nhiều vào gia công đang dần tới ngưỡng.
Lát cắt thứ 2 được chuyên gia kinh tế nhìn từ các đối tác thương mại lớn với nhiều thay đổi lớn. Nếu thị trường cần lưu tâm những thay đổi trong chính sách thương mại thì tại Liên minh châu Âu là xu hướng dịch chuyển áp dụng bắt buộc các tiêu chuẩn phát triển bền vững như CBAM, truy xuất nguồn gốc… Trong khi đó, Trung Quốc có xu hướng chính thức hoá, thể chế hoá các quy định quản lý nhập khẩu với yêu cầu quy trình chặt chẽ từ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến quy trình kiểm dịch.
Theo ông Đào Ngọc Tiến, với những triển vọng tích cực, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu từ 15 - 16% trong năm 2026 vẫn khả thi. Về lâu dài, cần những giải pháp căn cơ những giải quyết tồn tại nội tại của hoạt động thương mại, nhất là một số nhóm ngành xuất khẩu chủ lực nhằm tạo ra tăng trưởng đột phá. Qua đó, góp phần nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế trong bối cảnh thương mại quốc tế còn nhiều biến động.
Theo đó, bên cạnh các mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, cần đầu tư mạnh hơn để thay đổi cách tổ chức sản xuất, phát triển sản xuất nguyên phụ liệu trong nước nhằm giảm phụ thuộc nhập khẩu, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực công nghệ.
Đồng thời, tăng cường gắn kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, mở đường đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất thông qua hỗ trợ về vốn, nhân lực. Hoạt động hỗ trợ cần tập trung vào các doanh nghiệp quy mô vừa, doanh nghiệp tiềm năng.