Tài chính doanh nghiệp

Xu hướng vay vốn ngoại

Lê Mỹ 01/09/2026 11:00

Để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển đổi số và đặc biệt là chiến lược chuyển đổi xanh, thị trường tài chính quốc tế đã trở thành kênh vốn chiến lược.

hdbank 67
HDBank đã ký kết khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế do ADB và Standard Chartered đồng điều phối. Ảnh: HDBank

Hàng loạt thương vụ vay vốn ngoại quy mô lớn đã diễn ra trong thời gian gần đây.

Động lực đằng sau cầu vốn ngoại

Nổi bật nhất trong các thương vụ vay vốn ngoại gần đây là khoản vay hợp vốn liên kết bền vững 1,44 tỷ USD của VPBank. Khoản vay có kỳ hạn 3 năm, gắn liền với các mục tiêu hiệu suất bền vững nhằm mở rộng tín dụng xanh và xã hội.

Gần đây, HDBank cũng ký kết khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế, do ADB và Standard Chartered đồng điều phối. Tham gia thu xếp và dựng sổ có ANZ, Cathay United Bank, Commerzbank, Maybank Securities, MUFG Bank và State Bank of India. Nhờ sự tham gia của 21 định chế tài chính quốc tế, giao dịch đạt tổng giá trị giải ngân 721 triệu USD.

Trước đó, thị trường cũng chứng kiến chuỗi phát hành trái phiếu xanh theo chuẩn ICMA (2024 - 2025) với sự tham gia của các ngân hàng lớn như BIDV, VCB, được xác nhận độc lập bởi các tổ chức quốc tế uy tín.

Ở các lĩnh vực phi tài chính, hoạt động vay vốn quốc tế cũng tạo “sóng” đáng kể. Qua Maybank Investment Bank (MSVN), Đầu tư SCommerce (SCommerce) – doanh nghiệp sở hữu hệ sinh thái logistics hàng đầu Việt Nam gồm GHN, GHN Logistics và Ahamove, đã huy động 580 tỷ đồng trong nửa đầu 2026. Trước đó, nhóm MSVN, MIBG, FiiRatings đã hậu thuẫn cho Miza Nghi Sơn phát hành trái phiếu xanh quốc tế 150 tỷ đồng. Hay trong quý II, Vingroup đã hát hành thành công 350 triệu USD trái phiếu quốc tế, có kỳ hạn 5 năm và lãi suất cố định 5,5%/năm…

Có thể thấy đối với ngân hàng, huy động vốn quốc tế là kênh quen thuộc, được vận động để bổ sung nguồn vốn chi phí thấp có tính hỗ trợ phát triển cao cho nền kinh tế qua tái cho vay. Vốn này thường đến từ các quỹ cho vay hỗ trợ các nền kinh tế như ADB, IFC, AFD… và sẽ cho vay lại đến các đối tượng SME, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ… Bên cạnh đó, vay hợp vốn, vay tài trợ thương mại quốc tế là nguồn quan trọng bổ sung để củng cố nền tảng vốn cấp 2 và vốn trung dài hạn theo chuẩn Basel II, III, đồng thời đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.

Với các doanh nghiệp nói chung bao gồm khu vực tài chính phi ngân hàng (ví dụ chứng khoán cũng ghi nhận hàng trăm triệu USD được vay bổ sung), bên cạnh sự thúc đẩy theo xu hướng toàn cầu đòi hỏi các khoản huy động vốn với các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Đây là nguồn ngoại tệ có chi phí thấp hơn vốn vay trong nước và có tính ổn định dài hơn, kỳ hạn huy động thường 3, 5, 7, thậm chí 10 - 15 năm.

Do đó, bài toán "lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn", qua kênh vốn quốc tế trên mặt bằng chi phí lãi vay hiện nay, được ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Saigon Ratings nhận định, sẽ phần nào được hóa giải, góp phần tối ưu hóa cấu trúc bảng cân đối kế toán đối với ngân hàng nói riêng, và tăng cường nguồn lực cho doanh nghiệp trong đầu tư, kinh doanh.

Những yếu tố cần lưu ý

Ông Phùng Xuân Minh cho rằng, kênh này không dễ rộng cửa với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, chưa thuận lợi về hồ sơ doanh nghiệp lẫn kinh nghiệm tiếp cận. Do đó, doanh nghiệp cần nâng tầm quản trị. Các tiêu chuẩn khắt khe của các nhà đầu tư chính là động lực thúc đẩy áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe về minh bạch thông tin, quản trị rủi ro và các chỉ số ESG. Qua đó, tạo "giấy thông hành" để doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp cận các vòng huy động vốn quốc tế tiếp theo với mức tín nhiệm cao hơn.

“Việc Việt Nam tiếp tục cải thiện tín nhiệm quốc gia để nâng bậc tín nhiệm, nâng trần xếp hạng tín nhiệm cho doanh nghiệp sẽ hỗ trợ đáng kể cho khơi thông kênh huy động vốn quốc tế, đặc biệt ở góc độ chi phí”, Chủ tịch Saigon Ratings lưu ý.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Ngân hàng Đầu tư ABS cho rằng, cần theo dõi sự dịch chuyển lãi suất điều hành từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Dự báo về xu hướng chính sách của FED, ông Nguyễn Thế Minh cho rằng trừ khi xuất hiện những biến số bất ngờ, lạm phát cơ bản của Mỹ nhiều khả năng sẽ duy trì quanh mốc 2%, song kinh tế chưa thực sự khỏe mạnh (hiện đang tăng trưởng khoảng 2,5%). Do đó, kịch bản FED giữ nguyên lãi suất, hoặc thậm chí có một đợt giảm lãi suất trong quý III và IV/2026 hoàn toàn có khả năng xảy ra. Cùng với đó, chỉ số DXY đã sụt giảm đáng kể. Lợi suất trái phiếu kỳ hạn ngắn dưới một năm giảm nhanh hơn hẳn so với các kỳ hạn dài.

“Mặc dù lợi suất trái phiếu kỳ hạn dài vẫn neo ở vùng giá cao, nhưng việc các kỳ hạn ngắn bước vào chu kỳ giảm cho thấy rủi ro lãi suất đang thực sự thuyên giảm. Đây là một điểm sáng nổi bật giữa bối cảnh kinh tế vẫn còn nhiều căng thẳng từ đầu năm đến nay và là yếu tố hỗ trợ cho tỷ giá”, ông Nguyễn Thế Minh nhấn mạnh.

Đối với tỷ giá USD/VND, so sánh với các quốc gia trong khu vực như Indonesia (mất giá hơn 6%), Hàn Quốc (hơn 6%) và Thái Lan (hơn 5%), Việt Nam cùng với Trung Quốc và Singapore là những thị trường duy trì được sự ổn định tiền tệ tốt nhất. Vì vậy, ông Nguyễn Thế Minh nhận định việc vay vốn USD đang giúp doanh nghiệp, ngân hàng có chi phí rẻ hơn. Song về dài hạn, ông nhấn mạnh doanh nghiệp vẫn phải luôn theo dõi và có chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đặc biệt với vay ngoại tệ hay trái phiếu, tránh áp lực trả nợ gốc và lãi quy đổi ra VND tăng mạnh nếu nội tệ sụt giảm giá trị so với đồng USD.

Bên cạnh đó, cần tuân thủ theo các điều kiện cam kết với tổ chức cho vay thường được ràng buộc ở các khoản vay quốc tế, sẽ giúp tổ chức huy động tránh rủi ro đối mặt với chế tài tăng lãi suất phạt hoặc tổn hại uy tín.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Xu hướng vay vốn ngoại
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO