Tài chính doanh nghiệp

Các rủi ro và 6 đòn bẩy để quản trị nguồn vốn của doanh nghiệp

Lê Mỹ 12/06/2026 11:05

Biến động vĩ mô đang tác động đến tài chính doanh nghiệp thông qua bốn kênh rủi ro, đồng thời gây áp lực lên biên lợi nhuận, dòng tiền và năng lực huy động vốn.

Trong bối cảnh mới với nhiều rủi ro, doanh nghiệp nên làm gì để quản trị nguồn vốn và vốn lưu động hiệu quả?

3 rủi ro vĩ mô

Theo các chuyên gia PwC Việt Nam, trong bối cảnh mới, có 3 rủi ro chính tác động đến Việt Nam bao gồm an ninh năng lượng, mất giá đồng tiền và lan truyền lạm phát.

Về an ninh năng lượng, 85% lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam đến từ Trung Đông. Mỗi đợt tăng giá dầu lập tức đẩy chi phí logistics, điện và sản xuất đi lên, trong khi Việt Nam gần như không có nguồn dự trữ nội địa đủ lớn để hấp thụ cú sốc, chuyên gia PwC Việt Nam đánh giá.

dong tien
Theo PwC, hầu hết các dự toán ngân sách năm 2026 được xây dựng dựa trên giả định giá dầu ở mức khoảng 68 USD/thùng và cước vận chuyển bình thường. Thực tế cho thấy các giả định đó hiện không còn chính xác, làm nới rộng khoảng cách giữa kế hoạch và thực thi. Sai số vận hành trở thành rủi ro chiến lược đối với dòng tiền và biên lợi nhuận. (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên ở đây phải khẳng định Việt Nam đã có những giải pháp thích ứng phù hợp và định hướng để tiến đến tự chủ, đảm bảo an ninh năng lượng nội địa phù hợp với bối cảnh và xu hướng tiêu thụ năng lượng cao song đi cùng là đòi hỏi đáp ứng các tiêu chí để phát triển bền vững.

Về rủi ro mất giá đồng tiền, theo PwC Việt Nam, tiền Đồng (VND) đã yếu đi khoảng 1,3% so với USD trong vòng một năm, từ mức 26.005 lên 26.356, khuếch đại chi phí của mọi nghĩa vụ thanh toán bằng USD ngay tại thời điểm giá dầu leo thang.

Về lan truyền lạm phát, CPI tháng 5 năm 2026 đạt 5,60%, đây là mức cao nhất kể từ tháng 1 năm 2020. Riêng nhóm giao thông tăng 12,48%, phản ánh tác động dây chuyền trực tiếp từ giá dầu vào rổ chi tiêu của người tiêu dùng và cấu trúc chi phí của doanh nghiệp.

PwC Việt Nam dẫn khảo sát từ một số đại diện lãnh đạo doanh nghiệp, phụ trách Tài chính doanh nghiệp, cho thấy các khó khăn phần lớn tập trung quanh biến động tỷ giá, chi phí năng lượng và gián đoạn vận chuyển. Do đó, doanh nghiệp bị tăng chi phí, có rủi ro chuỗi cung ứng... đòi hỏi phải siết chặt lập kế hoạch thanh khoản, phòng vệ rủi ro và giám sát các giao dịch xuyên biên giới cũng như phơi nhiễm trong chuỗi cung ứng. Đặc biệt biến động tỷ giá khiến phần lớn nhà giao dịch đang ở thế bị động. Một số đánh giá rủi ro lớn nhất hiện nay là gián đoạn dòng tiền, thanh khoản, cùng với xu hướng tiêu dùng suy yếu. Những thay đổi này xuất phát từ căng thẳng leo thang tại khu vực Trung Đông, dẫn đến điều kiện thương mại biến động, sản lượng suy giảm, biên lợi nhuận bị thu hẹp và chi phí gia tăng đáng kể, đồng thời khả năng tiếp cận nguồn vốn cũng bị hạn chế trong bối cảnh tỷ giá và lãi suất gia tăng.

4 kênh rủi ro tác động đến tài chính doanh nghiệp

Tình hình Hormuz tác động đến tài chính doanh nghiệp thông qua bốn kênh rủi ro đang đồng thời gây áp lực lên biên lợi nhuận, dòng tiền và năng lực huy động vốn, báo cáo về quản trị nguồn vốn và lưu động của doanh nghiệp do PwC vừa công bố cho hay.

Các kênh rủi ro tác động đến tài chính doanh nghiệp
Các kênh rủi ro tác động đến tài chính doanh nghiệp với 3 nhóm ngành chịu tác động lớn nhất. (Nguồn: PwC)

Theo các nhà phân tích của hãng kiểm toán, xét riêng lẻ, từng kênh đều có thể quản trị được, nhưng khi chúng cộng hưởng và không được kiểm soát, sức khỏe tài chính của doanh nghiệp có thể suy giảm ở tốc độ vượt xa khả năng phản ứng của bộ máy điều hành. Kênh thứ nhất là chi phí năng lượng và nguyên liệu đầu vào, với giá dầu ở mức khoảng 100 USD/thùng đang đẩy chi phí logistics, nhựa, sợi tổng hợp và năng lượng lên cao trên diện rộng. Các thông báo bất khả kháng từ nguồn cung LNG đang làm gián đoạn chuỗi cung ứng phân bón và hóa dầu, khiến doanh nghiệp không có công cụ phòng vệ giá hàng hóa trở thành người chấp nhận giá, mất quyền chủ động về chi phí và thời điểm.

Kênh thứ hai là gián đoạn chuỗi cung ứng, thể hiện qua lưu lượng qua Hormuz giảm 93%, việc định tuyến lại kéo dài thời gian vận chuyển thêm 10-14 ngày trong khi cước vận tải hiện cao gấp 3-4 lần mức trước khủng hoảng. Phản ứng tự nhiên của doanh nghiệp là tăng tồn kho an toàn, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc khóa nguồn vốn lẽ ra dùng để trả nợ hoặc tài trợ tăng trưởng.

Kênh thứ ba là biến động tỷ giá và siết van tín dụng, khi VND giảm 1-2% từ đầu năm đẩy chi phí nguyên liệu nhập khẩu tính theo USD lên cao. Ngân hàng Nhà nước hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng 2026 xuống 15%, phát đi tín hiệu thận trọng đúng vào lúc nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp đang tăng, khiến phần lớn CFO chỉ phát hiện hạn mức bị thu hẹp tại thời điểm gia hạn khi dư địa xoay sở đã không còn.

Kênh thứ tư là áp lực từ khách hàng và nhu cầu, khách hàng chịu áp lực chi phí tương tự nên thanh toán chậm hơn và đặt hàng ít đi. Chu kỳ khoản phải thu đang tăng, với khoảng 35% hóa đơn B2B quá hạn. Trong cú sốc Ukraine, chu kỳ khoản phải thu của ngành sản xuất Việt Nam đã kéo dài thêm 8-12 ngày chỉ trong sáu tháng, và cú sốc lần này có cơ chế truyền dẫn còn trực tiếp hơn. Các yếu tố bị ảnh hưởng bao gồm giá vốn, chỉ tiêu, thời gian cung ứng, chi phí hàng tồn kho, tạo ra hệ quả tổng hợp lên biên lợi nhuận, tín dụng, chu kỳ khoản phải thu và doanh thu.

"Các cú sốc xảy ra đồng thời đang cộng hưởng, làm trầm trọng thêm áp lực thanh khoản và đẩy doanh nghiệp vào thế phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn bên ngoài đúng vào lúc nguồn vốn đó trở nên đắt đỏ và khó tiếp cận hơ", chuyên gia nhận định.

Ngoài ra doanh nghiệp cũng gặp những thách thức ở góc độ nội tại và cấu trúc của từng doanh nghiệp, theo từng ngành hàng.

6 đòn bẩy quản trị nguồn vốn

Trong bối cảnh và thực trạng như vậy, các chuyên gia PwC cũng đưa ra 6 đòn bẩy có thể triển khai trong 3-6 tháng nhằm khơi thông dòng tiền bị mắc kẹt, kiểm soát rủi ro chi phí và tỷ giá, đồng thời xây dựng năng lực ngân quỹ vững vàng trước áp lực kinh tế vĩ mô kéo dài.

Thứ nhất là quản lý công nợ phải thu và tài trợ hóa đơn bằng cách siết chặt điều kiện tín dụng đối với khách hàng, áp dụng kỷ luật thu hồi công nợ và sử dụng chiết khấu hóa đơn để chuyển công nợ thành tiền mặt nhanh hơn. Theo chuyên gia, khoảng chênh lệch giữa điều khoản thanh toán đã thỏa thuận và thực tế thu tiền là nơi chôn vùi một lượng tiền mặt đáng kể của doanh nghiệp, và tài trợ hóa đơn là công cụ giúp biến các khoản chậm trả này thành dòng tiền tức thời.

Thứ hai là tối ưu hàng tồn kho và tài trợ tồn kho thông qua việc thanh lý hàng tồn luân chuyển chậm, hiệu chỉnh lại mức tồn kho an toàn, nghiên cứu áp dụng mô hình quản lý tồn kho do nhà cung cấp đảm nhiệm và sử dụng nghiệp vụ tài trợ thế chấp hàng tồn kho. Tồn kho được tích trữ vì lo ngại gián đoạn chuỗi cung ứng đang trở thành tài sản đắt đỏ nhất, tài trợ trên hàng tồn kho cho phép giải phóng dòng tiền mà không phải bán tháo hàng.

Thứ ba là tối ưu công nợ phải trả và tài trợ chuỗi cung ứng bằng cách kéo dài thời hạn thanh toán cho nhà cung cấp và triển khai tài trợ chuỗi cung ứng để nhà cung cấp được thanh toán sớm trong khi doanh nghiệp được giãn kỳ hạn. Nếu thực thi tốt, đòn bẩy này có thể giải phóng nhiều tiền hơn việc xin một hạn mức tín dụng mới mà không phát sinh chi phí tài chính hay tổn hại quan hệ với nhà cung cấp.

Thứ tư là quản trị rủi ro hàng hóa và tỷ giá qua việc thiết lập chính sách phòng ngừa rủi ro có cấu trúc, chốt tỷ giá kỳ hạn cho các khoản phải trả USD và áp dụng công cụ bảo vệ giá đối với các đầu vào chính. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chịu toàn bộ rủi ro giá dầu và tỷ giá mà chưa có chương trình phòng ngừa có cấu trúc, khi dầu ở mức khoảng 100 USD/thùng, đây là rủi ro nguồn vốn rất đáng kể.

Thứ năm là chiến lược huy động vốn và quản trị tín dụng yêu cầu rà soát lại các điều khoản ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, đa dạng hóa quan hệ ngân hàng, chủ động đảm bảo hoặc gia hạn các hạn mức tín dụng và coi việc thanh lý tài sản là phương án cuối cùng có cấu trúc. Các ngân hàng đang ngày càng khắt khe trong việc chọn lọc nên đa dạng hóa nguồn vốn sớm giúp CFO chủ động hơn trước áp lực tái cấp vốn.

Thứ sáu là công nghệ và hiển thị dòng tiền, triển khai bảng điều khiển dòng tiền theo thời gian thực, tích hợp dữ liệu ERP và tự động hóa việc theo dõi vị thế tiền mặt hằng ngày trên toàn bộ các đơn vị kinh doanh. Phần lớn bộ phận tài chính đang ra quyết định dựa trên dữ liệu cũ 30-45 ngày, trong thị trường biến động hiện nay, đó không phải dự báo mà là lịch sử.

PwC Việt Nam cũng cho biết đơn vị kiểm toán đã hỗ trợ một số dự án tiêu biểu giúp doanh nghiệp giải phóng dòng tiền và cải thiện công tác quản trị ngân quỹ. PwC sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp bao gồm khảo sát rủi ro nguồn vốn và thanh khoản miễn phí thông qua trao đổi 30 phút, đối chuẩn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt miễn phí, và dịch vụ thu phí đánh giá hiện trạng nhanh trong 2-3 tuần để bàn giao lộ trình cải thiện.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Các rủi ro và 6 đòn bẩy để quản trị nguồn vốn của doanh nghiệp
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO