Việt Nam dẫn đầu thế giới nhiều mặt hàng nông sản nhưng thiếu sàn giao dịch thực thụ, gây lãng phí nguồn lực và đánh mất quyền định đoạt giá bán.

Việc thiếu vắng một sàn giao dịch nội địa đủ uy tín khiến dòng tiền từ các giao dịch hàng hóa chảy ra nước ngoài. Trong khi đó, mặc dù không sản xuất cà phê, Mỹ vẫn xây dựng các sàn giao dịch quyền lực, thậm chí mua lại cả sàn London để kiểm soát dòng tiền và thông tin.
Việt Nam đang đứng trong tốp 3 hàng đầu thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực như tiêu, cà phê, gạo, hạt điều và thủy sản. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại dai dẳng là các nhà xuất khẩu trong nước vẫn phải nhìn vào bảng điện tử của New York, London hay thậm chí là Ấn Độ để định giá cho chính sản phẩm mình làm ra.
Có thể thấy điều này qua những con số minh chứng cho quy mô khổng lồ của nông sản Việt: xuất khẩu cà phê mỗi năm đạt từ 1,5 triệu đến 1,9 triệu tấn. Đặc biệt, hạt tiêu Việt Nam chiếm tới 50% đến 60% sản lượng toàn cầu. Với vị thế này, lẽ ra Việt Nam phải là trung tâm điều phối giá cả thế giới. Thực tế hoàn toàn ngược lại, mỗi khi cần định giá hay thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro (Hedging), doanh nghiệp Việt buộc phải in bảng giá từ sàn London hoặc New York để làm cơ sở giao dịch với ngân hàng. Thậm chí, với mặt hàng tiêu mà Việt Nam áp đảo hoàn toàn về nguồn cung, các doanh nghiệp vẫn phải theo dõi sàn giao dịch của Ấn Độ, một quốc gia có sản lượng sản xuất vô cùng nhỏ bé so với Việt Nam.
Thực tế Việt Nam đã có sàn giao dịch nhưng đó “không phải là sàn giao dịch hàng hóa đúng nghĩa”. Bởi các sàn hiện tại đang vận hành theo cách thức thiên về “may rủi”, hoàn toàn tách rời với hàng hóa thực tế. Sự đứt gãy này dẫn đến việc sàn không thể kết nối được giữa nhà xuất khẩu và người mua toàn cầu. Một sàn giao dịch chuẩn mực phải là nơi gắn liền với hệ thống kho bãi, vận chuyển và các tiêu chuẩn kiểm định hàng hóa nghiêm ngặt.
Trong gần 25 năm tham gia thị trường, tôi nhận thấy sàn giao dịch hàng hóa không chỉ phục vụ việc mua bán mà còn tạo ra rất nhiều dòng tiền cho nền kinh tế. Sàn giao dịch hàng hóa đúng nghĩa phải giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro thông qua nghiệp vụ Hedging dựa trên các lô hàng thật. Nếu không gắn với hàng thật, sàn giao dịch chỉ là công cụ để đầu cơ, gây lũng đoạn thị trường thay vì thúc đẩy sản xuất. Khi có sự kết nối với hàng thật, sàn sẽ tạo ra vô vàn công ăn việc làm và trở thành một phần không thể tách rời của hệ sinh thái trung tâm tài chính. Đây là điều Việt Nam cần phải hoàn thiện nếu muốn xây dựng một trung tâm giao dịch hàng hóa hiện đại và một trung tâm tài chính quốc tế trong tương lai. Thông thường, mọi sàn giao dịch hàng hóa lớn trên thế giới đều gắn với hệ thống kho bãi rất mạnh. Khi có kho bãi, có đơn vị giao nhận, có hệ thống logistics đồng bộ thì chúng ta sẽ kiểm soát tốt hơn nguồn hàng, chất lượng hàng hóa và khả năng giao hàng đến tận tay người mua.
Nếu Việt Nam xây dựng được hệ thống đó, chúng ta sẽ tạo ra rất nhiều việc làm, thúc đẩy logistics, tài chính, bảo hiểm và nhiều ngành dịch vụ khác phát triển.
Nói đến Trung tâm Tài chính Quốc tế thì phải có nhiều sản phẩm tài chính đi kèm và sàn giao dịch hàng hóa chính là một trong những sản phẩm rất quan trọng.
Bên cạnh đó cần lưu ý rằng chuyển đổi số và công nghệ sẽ tạo ra cơ hội rất lớn cho lĩnh vực này. Khi áp dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng giao dịch điện tử vào hoạt động của sàn giao dịch hàng hóa thì mọi giao dịch sẽ trở nên đơn giản, minh bạch và hiệu quả hơn rất nhiều. Không chỉ doanh nghiệp lớn mà cả nông dân, hợp tác xã hay doanh nghiệp chế biến cũng có thể tiếp cận trực tiếp với thị trường và sử dụng các công cụ quản trị rủi ro.
Có thể khẳng định: Nếu trong tương lai Việt Nam xây dựng được sàn giao dịch hạt điều, cà phê, hồ tiêu hay gạo thì chúng ta không chỉ tạo ra giá trị từ thương mại mà còn tạo ra giá trị rất lớn từ tài chính, logistics, kho bãi, các công cụ phái sinh và dịch vụ thương mại quốc tế. Đó chính là những giá trị cốt lõi mà một trung tâm tài chính quốc tế cần phải có.
Ngoài ra từ góc độ doanh nghiệp, trong hiện tại, chúng tôi nhận thấy hiện nay có một số quy định đang tạo áp lực rất lớn lên doanh nghiệp xuất khẩu. Ví dụ như Nghị định 132 về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết.
Thực tế, quy định này khiến nhiều doanh nghiệp như chúng tôi phải chịu mức thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế lên tới khoảng 35,6% trong năm 2025. Ngoài thuế suất thông thường 20%, doanh nghiệp còn bị khống chế chi phí lãi vay theo quy định của Nghị định 132.
Trong bối cảnh giá cà phê tăng gấp ba lần, giá tiêu tăng gấp đôi, doanh nghiệp buộc phải vay vốn ngân hàng rất lớn để thu mua nguyên liệu phục vụ xuất khẩu. Trong khi đó, lãi suất hiện nay vẫn ở mức cao.
Đơn cử như Phúc Sinh, mỗi năm xuất khẩu hàng trăm triệu USD , mang ngoại tệ về cho đất nước và tạo đầu ra cho hàng triệu nông dân, với Nghị định 132 đang tạo áp lực rất lớn cho doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp rất mong các cơ quan quản lý xem xét điều chỉnh những chính sách chưa thực sự phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu phát triển bền vững hơn trong thời gian tới.