Nghiên cứu - Trao đổi

Để doanh nghiệp Việt vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu

Yến Nhung thực hiện • 13/10/2026 04:00

Sau 40 năm Đổi mới, doanh nghiệp Việt Nam đã có bước chuyển mạnh về số lượng và vai trò trong nền kinh tế, nhưng bài toán nâng quy mô, làm chủ công nghệ và gia tăng giá trị trong chuỗi toàn cầu vẫn đặt ra nhiều thách thức.

ngo-tri-long.jpg
Chuyên gia kinh tế PGS TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt nam

Đây là chia sẻ của Chuyên gia kinh tế PGS TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt nam với Diễn đàn Doanh nghiệp.

- Sau 40 năm Đổi mới, theo ông, doanh nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi đáng chú ý nào về quy mô, năng lực cạnh tranh và vị thế trong nền kinh tế?

Nếu nhìn lại 40 năm Đổi mới, theo tôi, thay đổi lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp tăng lên, mà sâu xa hơn là sự thay đổi về vị thế, vai trò và quyền kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Từ một nền kinh tế mà khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước còn nhỏ bé, Việt Nam đã hình thành cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực và từng bước tham gia thị trường khu vực, quốc tế.

Đến nay, số doanh nghiệp đang hoạt động đã vượt mốc 1 triệu. Riêng năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên 297,5 nghìn.

Quy mô và mức độ hội nhập của nền kinh tế cũng đã thay đổi căn bản. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD.

Doanh nghiệp tư nhân cũng đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực trước đây có sự hiện diện hạn chế, từ công nghiệp, hạ tầng, logistics đến công nghệ, kinh tế số, dịch vụ tài chính và sản xuất quy mô lớn. Một số doanh nghiệp đã bắt đầu xây dựng thương hiệu, đầu tư ra nước ngoài và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa thành tựu của nền kinh tế xuất khẩu với năng lực thực chất của doanh nghiệp Việt Nam. Năm 2025, khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%.

Theo tôi, bước chuyển đáng chú ý nhất của 40 năm qua là doanh nghiệp đã trở thành một chủ thể trung tâm của nền kinh tế thị trường, không chỉ tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng mà ngày càng tham gia vào đầu tư, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh quốc tế.

Nhưng chặng đường tiếp theo không thể chỉ là câu chuyện có thêm nhiều doanh nghiệp. Thước đo quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp đủ lớn, đủ công nghệ, thương hiệu và năng lực để nắm giữ những mắt xích có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Theo ông, đâu là “nút thắt” lớn nhất khiến doanh nghiệp Việt Nam dù tăng nhanh về số lượng nhưng vẫn khó nâng cao quy mô, năng suất, công nghệ và giá trị trong chuỗi toàn cầu?

Theo tôi, không nên nhìn vấn đề đơn giản là doanh nghiệp Việt Nam thiếu vốn. Vốn quan trọng, nhưng nút thắt sâu hơn là năng lực biến nguồn lực thành năng suất, công nghệ, quản trị, tài sản trí tuệ và giá trị gia tăng.

Hiện khoảng 98% doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy mô nhỏ kéo theo hàng loạt hạn chế: khó đầu tư R&D dài hạn, khó thu hút nhân lực chất lượng cao, khó đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, sức chống chịu trước cú sốc yếu và vị thế đàm phán trong chuỗi cung ứng thấp.

Nhưng điều đáng lưu ý là nhỏ không đáng lo bằng nhỏ lâu và không lớn lên được. Một nền kinh tế khỏe phải có cơ chế để doanh nghiệp khởi nghiệp, tích lũy, mở rộng quy mô rồi hình thành lớp doanh nghiệp vừa và lớn.

Nếu hàng triệu doanh nghiệp đều quanh quẩn ở quy mô nhỏ, cạnh tranh bằng chi phí thấp và gia công thì số lượng tăng rất nhanh nhưng năng lực quốc gia không tăng tương ứng.

Khoảng cách này thể hiện rõ trong thương mại quốc tế. World Bank cho biết, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước Việt Nam có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu đã giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023.

Một điểm nghẽn khác là chất lượng nguồn nhân lực. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,2%. Trong khi đó, cạnh tranh đang chuyển nhanh từ lợi thế lao động giá rẻ sang kỹ sư, dữ liệu, AI, tự động hóa, thiết kế sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng và sở hữu trí tuệ.

Vì vậy, cần thay đổi cách đo thành công của chính sách phát triển doanh nghiệp. Không chỉ hỏi mỗi năm có bao nhiêu doanh nghiệp thành lập mới, mà phải hỏi có bao nhiêu doanh nghiệp từ nhỏ trở thành vừa, từ vừa trở thành lớn; bao nhiêu doanh nghiệp trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn toàn cầu; và tỷ lệ giá trị Việt Nam tạo ra trong một sản phẩm xuất khẩu tăng được bao nhiêu.

Nút thắt lớn nhất, xét đến cùng, là doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu năng lực để đi từ “làm ra sản phẩm” sang “làm chủ giá trị của sản phẩm”.

- Để từ một doanh nghiệp có năng lực sản xuất trở thành doanh nghiệp có thương hiệu và vị thế quốc tế, Nhà nước nên hỗ trợ đến đâu và doanh nghiệp phải tự thay đổi những gì, thưa ông?

Theo tôi, cần xác định rõ: Nhà nước kiến tạo môi trường và chia sẻ một phần rủi ro phát triển, còn doanh nghiệp phải là chủ thể quyết định năng lực cạnh tranh của mình.

Nhà nước trước hết phải tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Vai trò của Nhà nước cũng là tạo những hạ tầng mà doanh nghiệp riêng lẻ khó tự xây dựng, như logistics, dữ liệu, tiêu chuẩn – kiểm định, R&D, sở hữu trí tuệ, thị trường vốn và xúc tiến thương mại quốc tế.

Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra khá rõ định hướng này. Nghị quyết yêu cầu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó đặt mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ pháp luật và 30% điều kiện kinh doanh. Đây là những cải cách có ý nghĩa trực tiếp với khả năng tích lũy và mở rộng của doanh nghiệp.

Đáng chú ý, Nghị quyết 198 cũng có các cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho quá trình nâng cấp doanh nghiệp. Doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chi phí nghiên cứu và phát triển còn được tính vào chi phí được trừ ở mức 200% chi phí thực tế theo quy định. Nghị quyết đồng thời đặt ra Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong và Chương trình “Go Global” nhằm hỗ trợ doanh nghiệp về thị trường, vốn, công nghệ, thương hiệu, logistics, pháp lý, M&A và kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.

Tôi cho rằng đây là hướng hỗ trợ cần thiết, nhưng chính sách chỉ tạo được “bệ đỡ”, còn năng lực cạnh tranh phải do doanh nghiệp tự hình thành. Muốn lớn lên và đi ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp trước hết phải thay đổi về quản trị, minh bạch tài chính, quản trị rủi ro và phát triển nhân lực. Đồng thời, đầu tư cho công nghệ cũng
phải chuyển từ việc đơn thuần mua máy móc sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và sở hữu trí tuệ.

Một vấn đề khác là thương hiệu. Nếu doanh nghiệp chủ yếu sản xuất theo thiết kế, thương hiệu hoặc hệ thống phân phối của đối tác nước ngoài thì phần giá trị giữ lại sẽ hạn chế. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “sản xuất để xuất khẩu” sang xây dựng sản phẩm, thương hiệu và thị trường của chính mình.

- Trân trọng cảm ơn ông!

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Để doanh nghiệp Việt vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO