Từ chính sách đến dòng vốn, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đang góp phần định hình nền tảng cho chuyển đổi xanh tại Việt Nam.
Mở rộng “không gian hợp tác” Việt Nam - Nhật Bản
Cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 mà Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra tại COP26 đang đặt ra yêu cầu rất lớn về nguồn lực tài chính, thể chế và công nghệ đối với Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này, Nhật Bản, thông qua sự hợp tác của nhiều cơ quan trong đó có JICA Việt Nam, đang tiếp tục đồng hành và hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi đầy thách thức.

Phát biểu tại Hội thảo “Khoản vay chương trình cho chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu” ngày 18/3 do Bộ Tài chính phối hợp với JICA Việt Nam tổ chức, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết tổng nhu cầu tài chính để thực hiện các biện pháp giảm phát thải đến năm 2030 ước tính khoảng 68,75 tỷ USD. Trong đó, nguồn lực trong nước chỉ đáp ứng khoảng 36% (tương đương hơn 24,7 tỷ USD), còn lại 64% (khoảng 44 tỷ USD) cần huy động từ các đối tác quốc tế.
Đây là thách thức rất lớn, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục nhận được sự đồng hành của các đối tác phát triển, trong đó có Nhật Bản, không chỉ về tài chính mà còn về công nghệ và nguồn nhân lực.
Theo Thứ trưởng, trong năm 2025, Bộ Tài chính phối hợp Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản xây dựng Chương trình “Hỗ trợ ngân sách chung cho chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu” với trị giá 50 tỷ yên (tương đương 320 triệu USD). Mục tiêu chính của Chương trình này là hỗ trợ thực hiện các chiến lược, chính sách vì mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Việc khoản vay trị giá 50 tỷ yên được phê duyệt và sẽ được ký kết trong tháng 3/2026 là kết quả rất quan trọng nhằm cụ thể hóa cam kết của Lãnh đạo cấp cao hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác “ODA thế hệ mới” thể hiện đúng tinh thần của các khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn, thủ tục đơn giản hơn, linh hoạt hơn, tài trợ cho một trong 4 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ Việt Nam là chuyển đổi xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, đóng góp chung cho quan hệ hai nước tiếp tục phát triển trong giai đoạn tới.
Về phía Nhật Bản, Đại sứ ITO Naoki khẳng định, việc ký kết khoản vay không phải là điểm kết thúc mà là khởi đầu cho các sáng kiến hợp tác mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng “0” tại Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là đóng góp thiết thực cho sáng kiến Cộng đồng không phát thải châu Á (AZEC) do Nhật Bản thúc đẩy.

Trong thời gian tới, JICA cam kết đẩy nhanh tiến độ giải ngân và tiếp tục hỗ trợ Việt Nam triển khai hiệu quả các chính sách đã đề ra. Cùng với đó, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản được kỳ vọng sẽ tiếp tục mở rộng, không chỉ trong phạm vi chính phủ mà còn lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp, tạo nên một “không gian hợp tác” ngày càng sâu rộng và thực chất hơn.
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang trở thành xu thế toàn cầu, việc triển khai hiệu quả các mô hình ODA thế hệ mới sẽ đóng vai trò then chốt, giúp Việt Nam vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa thực hiện các cam kết môi trường dài hạn.
Xây dựng khung ma trận chính sách
Đi sâu vào những chính sách quan trọng liên quan đến chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, ông Dương Hùng Cường, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính) đã phân tích về xây dựng khung ma trận chính sách.

Cụ thể, ma trận chính sách của khoản vay chương trình với tổng cộng 25 hành động được triển khai theo ba trụ cột chính, nhằm tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.
Thứ nhất, trụ cột về xây dựng và thiết lập các ưu đãi tài chính, đầu tư và cơ chế cho chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh. Nguồn lực tài chính đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa các mục tiêu của Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh. Do đó, Chính phủ và các bộ, ngành đã tích cực xây dựng nhiều chính sách nhằm huy động và định hướng dòng vốn cho các hoạt động xanh.
Tại trụ cột này, 10 hành động chính sách được thiết kế là sự kết hợp của các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Bên cạnh các chính sách tài khóa như rà soát và điều chỉnh hệ thống chính sách thuế (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp), sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách về đầu tư công (trong đó chú trọng nguồn vốn ODA cho các dự án phục vụ chuyển đổi xanh)… do Bộ Tài chính chủ trì theo hướng khuyến khích các hoạt động đầu tư xanh, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào thị trường tín chỉ các-bon và thị trường trái phiếu xanh; các chính sách tín dụng thúc đẩy phát triển bền vững và tăng trưởng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì cũng được triển khai.
Một nội dung quan trọng khác là việc xây dựng tiêu chí môi trường và cơ chế chứng nhận đối với các dự án được cấp tín dụng xanh và phát hành trái phiếu xanh do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, qua đó góp phần định hướng dòng vốn vào các hoạt động thân thiện với môi trường.
Thứ hai, trụ cột về xây dựng chính sách thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải và phát triển bền vững đang được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách quan trọng.
Việt Nam đã cập nhật NDC vào năm 2022 với các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính tham vọng hơn. Để thực hiện các mục tiêu này, nhiều cơ quan đang phối hợp xây dựng các chính sách nền tảng.
Chính phủ đã ban hành các quy định liên quan đến quản lý tín chỉ các-bon và phát triển thị trường các-bon, đồng thời xác định danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
Ông Cường cho biết trong lĩnh vực năng lượng, Bộ Công Thương đóng vai trò chủ trì trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho chuyển dịch năng lượng, bao gồm Luật Điện lực sửa đổi, cơ chế mua bán điện trực tiếp từ các nguồn năng lượng tái tạo và chính sách khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà.
Song song với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang thúc đẩy các chính sách về kinh tế tuần hoàn, đặc biệt trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt, nhằm giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Các quy trình kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật mới đã được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, góp phần giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Những chính sách này cho thấy sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc hiện thực hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Thứ ba, trụ cột về áp dụng các biện pháp liên quan đến biến đổi khí hậu và tăng cường khả năng phục hồi sau thiên tai. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, các hiện tượng thời tiết cực đoan đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng. Vì vậy, việc tăng cường khả năng thích ứng và phục hồi của nền kinh tế và xã hội là một yêu cầu cấp thiết.
Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm nâng cao năng lực thích ứng của các ngành, lĩnh vực và địa phương.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về phòng chống thiên tai được các cơ quan như Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện, bao gồm việc triển khai Luật Phòng thủ dân sự, xây dựng quy hoạch phòng chống thiên tai và tăng cường công tác chuẩn bị ứng phó với các tình huống khẩn cấp.
Đặc biệt, sau cơn bão số 3 (Yagi) gây thiệt hại lớn trong năm 2024, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ khẩn cấp nhằm giúp người dân và doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi sản xuất và ổn định đời sống. Các giải pháp bao gồm giảm thuế, hỗ trợ tín dụng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các cơ chế xử lý rủi ro tài chính cho các đối tượng bị ảnh hưởng.
Điều này cho thấy quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đang ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội.
“Có thể thấy hệ thống chính sách hiện nay đang từng bước hình thành một khuôn khổ toàn diện cho chuyển đổi xanh tại Việt Nam, kết hợp giữa các công cụ tài chính, tiền tệ, cơ chế thị trường, chính sách năng lượng, quản lý môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, khu vực tư nhân và các đối tác quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống dữ liệu, cơ chế giám sát và đánh giá chính sách”, ông Cường nhấn mạnh.