24h

Đừng để điều kiện kinh doanh hạn chế cạnh tranh

Nguyễn Giang • 20/10/2026 15:30

VCCI đề nghị không nâng yêu cầu thương nhân đầu mối xăng dầu phải sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ, nhằm giảm chi phí đầu tư và bảo đảm cạnh tranh…

Đề xuất yêu cầu thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu phải sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ đang đặt ra những băn khoăn về tính hợp lý của điều kiện kinh doanh. Trong văn bản góp ý dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu gửi Bộ Công Thương, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề nghị không nâng yêu cầu sở hữu lên mức này, đồng thời chuyển trọng tâm quản lý sang đánh giá năng lực cung ứng thực tế của doanh nghiệp.

Trao quyền định giá xăng dầu cho doanh nghiệp được kỳ vọng tăng tính thị trường, nhưng đi cùng đó phải là cơ chế bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các khâu trong chuỗi phân phối. Ảnh: Nguyễn Giang
VCCI đề nghị không nâng yêu cầu thương nhân đầu mối xăng dầu phải sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ, nhằm giảm chi phí đầu tư và bảo đảm cạnh tranh. Ảnh: Nguyễn Giang

Theo dự thảo, thương nhân đầu mối phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn cung và hệ thống phân phối, trong đó có yêu cầu sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ. VCCI cho rằng cần xem xét lại điều kiện này, bởi số lượng cửa hàng thuộc sở hữu chưa phản ánh đầy đủ khả năng bảo đảm nguồn hàng của doanh nghiệp.

Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống. Việc đặt ra những điều kiện chặt chẽ đối với thương nhân đầu mối là cần thiết để bảo đảm thị trường vận hành ổn định. Song, điều kiện kinh doanh phải thực sự phục vụ mục tiêu quản lý, thay vì buộc doanh nghiệp đầu tư thêm tài sản mà hiệu quả đối với nguồn cung chưa được chứng minh rõ ràng.

Trong văn bản góp ý, VCCI chỉ ra rằng dự thảo đã có những yêu cầu về tổng nguồn xăng dầu tối thiểu và nghĩa vụ dự trữ lưu thông. Đây là các tiêu chí gắn trực tiếp với khả năng cung ứng. Vì vậy, việc tiếp tục đặt ra yêu cầu sở hữu hàng chục cửa hàng bán lẻ cần được đánh giá kỹ về tính cần thiết và tác động đối với doanh nghiệp.

Thực tế, một thương nhân đầu mối có mạng lưới bán lẻ rộng chưa chắc đã tổ chức nguồn hàng hiệu quả hơn doanh nghiệp có ít cửa hàng nhưng sở hữu năng lực tài chính tốt, hệ thống kho vận phù hợp và những hợp đồng cung ứng ổn định. Quyền sở hữu tài sản có thể phản ánh quy mô đầu tư, nhưng không phải thước đo duy nhất của năng lực kinh doanh.

Đáng nói, nếu buộc phải sở hữu thêm cửa hàng, doanh nghiệp có thể phải dành nguồn vốn lớn để mua lại hoặc xây dựng cơ sở bán lẻ nhằm đáp ứng điều kiện cấp phép. Trong khi đó, nguồn lực này hoàn toàn có thể được đầu tư cho kho vận, dự trữ, nâng cao chất lượng dịch vụ hoặc củng cố khả năng bảo đảm nguồn hàng.

Một vấn đề khác được VCCI cảnh báo là nguy cơ gia tăng hoạt động mua lại các cửa hàng bán lẻ độc lập. Khi việc sở hữu cửa hàng trở thành điều kiện bắt buộc, các thương nhân đầu mối có thể tìm cách mở rộng mạng lưới thông qua thâu tóm những cơ sở đang hoạt động.

Nếu xu hướng này diễn ra trên diện rộng, số lượng cửa hàng bán lẻ độc lập có thể giảm, kéo theo nguy cơ thu hẹp khả năng lựa chọn đối tác cung ứng. Những doanh nghiệp đã có mạng lưới lớn cũng có thể giành thêm lợi thế, trong khi thương nhân mới hoặc doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn phải đối mặt với chi phí gia nhập thị trường cao hơn.

Điều đáng quan tâm không chỉ là doanh nghiệp phải bỏ thêm bao nhiêu vốn, mà còn là tác động lâu dài đối với cấu trúc cạnh tranh của thị trường. Một điều kiện kinh doanh được đặt ra nhằm bảo đảm nguồn cung không nên vô tình trở thành rào cản khiến cơ hội tham gia thị trường bị thu hẹp.

Để khắc phục bất cập này, VCCI kiến nghị cho phép thương nhân sử dụng kho, cửa hàng thuộc sở hữu, đồng sở hữu hoặc thuê để đáp ứng điều kiện kinh doanh. Việc sử dụng tài sản thuê phải bảo đảm thời hạn phù hợp với hiệu lực giấy xác nhận, xác định rõ quyền sử dụng thực tế và không tính trùng năng lực giữa các thương nhân.

Đây là hướng tiếp cận đáng cân nhắc, bởi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương án tổ chức kinh doanh phù hợp với năng lực tài chính mà vẫn phải chứng minh khả năng khai thác cơ sở vật chất. Thay vì chỉ kiểm tra tài sản đứng tên ai, cơ quan quản lý có thể tập trung xác định doanh nghiệp có thực sự sử dụng được tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ cung ứng hay không.

VCCI cũng đề xuất xem xét những tiêu chí phản ánh kết quả hoạt động, như sản lượng cung ứng thực tế cho thị trường nội địa, mức độ tuân thủ nghĩa vụ dự trữ lưu thông và hợp đồng cung ứng dài hạn.

Những tiêu chí này có ưu điểm là gắn với hoạt động thực tế của thương nhân đầu mối. Doanh nghiệp phải chứng minh khả năng bảo đảm nguồn hàng và thực hiện nghĩa vụ, thay vì chỉ đáp ứng điều kiện bằng số lượng tài sản thuộc sở hữu.

Một nội dung khác được VCCI đề cập là cơ chế chuyển tiếp đối với doanh nghiệp đang hoạt động. VCCI kiến nghị cho phép các thương nhân có giấy phép, giấy xác nhận còn hiệu lực tiếp tục áp dụng điều kiện tại thời điểm cấp cho đến hết thời hạn hiệu lực.

Đề xuất trên xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư. Doanh nghiệp đã bỏ vốn, xây dựng mạng lưới và tổ chức hoạt động theo những điều kiện pháp lý được áp dụng trước đó. Nếu phải đáp ứng thêm yêu cầu sở hữu tài sản khi giấy phép vẫn còn hiệu lực, kế hoạch kinh doanh và khả năng cân đối nguồn vốn có thể bị xáo trộn.

Bởi vậy, quá trình hoàn thiện dự thảo cần đánh giá đầy đủ chi phí tuân thủ, tác động đối với hệ thống phân phối và khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Việc siết điều kiện kinh doanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi lợi ích quản lý đạt được tương xứng với những chi phí mà thị trường phải gánh chịu.

Đồng tình với kiến nghị của VCCI, Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội cho rằng, điều kiện kinh doanh xăng dầu cần được xây dựng dựa trên năng lực bảo đảm nguồn cung thực tế, thay vì lấy số lượng cửa hàng thuộc sở hữu làm tiêu chí bắt buộc. Một doanh nghiệp có 40 cửa hàng chưa chắc đã có khả năng cung ứng tốt hơn doanh nghiệp sở hữu ít cửa hàng nhưng có nguồn hàng ổn định, hệ thống kho vận phù hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dự trữ.

“Việc buộc thương nhân đầu mối đầu tư hoặc mua lại hàng chục cửa hàng để đáp ứng điều kiện kinh doanh có thể làm tăng chi phí, hạn chế cơ hội gia nhập thị trường và ảnh hưởng đến cạnh tranh. Vì vậy, cần ưu tiên các tiêu chí đánh giá năng lực cung ứng, khả năng thực hiện hợp đồng và việc chấp hành nghĩa vụ của doanh nghiệp, thay vì đặt nặng yêu cầu sở hữu tài sản”, Luật sư Nguyễn Thanh Phong nêu quan điểm.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Đừng để điều kiện kinh doanh hạn chế cạnh tranh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO