Thị trường hàng hóa với diễn biến giá dầu, giá thép... có tác động đáng kể khi là đầu vào của nhiều ngành năng lượng, công nghiệp, xây dựng, sản xuất...
Mỗi biến động giá hàng hóa theo đó, cũng có thể dẫn đến kỳ vọng ở nhóm cổ phiếu khác nhau.
Trong quý II/2026, giá dầu biến động do tác động từ căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và những lo ngại về gián đoạn nguồn cung toàn cầu. Đặc biệt, giá dầu tăng mạnh trong tháng 6 do lo ngại gián đoạn nguồn cung tại Trung Đông và nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, giá dầu nhanh chóng điều chỉnh giảm khi căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt, hoạt động vận tải dần được nối lại và OPEC+ phát tín hiệu tăng sản lượng.
Kết thúc quý, giá dầu đã giảm đáng kể so với vùng đỉnh nhưng vẫn duy trì ở mức cao hơn trước thời điểm xung đột bùng phát.

Dự báo triển vọng giá dầu trong quý III của Chứng khoán VCBS cho rằng giá dầu nhiều khả năng sẽ dao động trong biên độ hẹp hơn so với quý I, với xu hướng giảm dần so với vùng đỉnh do phần bù rủi ro địa chính trị thu hẹp. Tuy nhiên, các diễn biến bất ngờ tại Trung Đông hoặc sự gián đoạn mới đối với hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz vẫn có thể khiến giá dầu biến động mạnh trong ngắn hạn.
Các chuyên gia nhận định, diễn biến giá dầu trong thời gian tới sẽ chịu tác động chủ yếu từ các yếu tố: Thứ nhất, rủi ro gián đoạn nguồn cung từ Trung Đông giảm dần khi hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz từng bước được nối lại.
Thứ hai, nguồn cung dầu toàn cầu có xu hướng phục hồi khi OPEC+ tiếp tục tăng sản lượng nhằm giành lại thị phần, trong khi sản lượng dầu đá phiến của Mỹ vẫn duy trì ở mức cao.
Thứ ba, quá trình khôi phục hoàn toàn lưu lượng vận tải, tái tích lũy tồn kho và đưa nguồn cung trở lại trạng thái trước xung đột được dự báo sẽ kéo dài đến cuối năm 2026.
Trên thực tế, diễn biến giá dầu của tháng 7 và 8 - 2 tháng đầu quý III cho thấy, đây là một giai đoạn vẫn còn chịu tác động rất mạnh của biến động địa chính trị nhưng xu hướng giá không hoàn toàn phản ánh mức độ thiếu hụt nguồn cung thực tế.
Giá dầu Brent bước vào tháng 7 ở vùng dưới 80 USD/thùng, nhưng sau khi thỏa thuận ngừng bắn Mỹ–Iran không đạt kỳ vọng và hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz bị gián đoạn trở lại, giá nhanh chóng đảo chiều, có thời điểm vượt 100 USD/thùng và đạt khoảng 105 USD/thùng ngày 23/7. Theo IEA, riêng trong tháng 7, dầu Brent Biển Bắc (North Sea Dated) tăng tới 25,67 USD/thùng, đóng cửa tháng ở 96,80 USD/thùng, trong khi biên độ dao động lên tới gần 40 USD/thùng - mức biến động đặc biệt lớn đối với một thị trường hàng hóa quy mô toàn cầu.
Ở tháng 8, giằng co giữa rủi ro địa chính trị và sự suy yếu của nhu cầu đã tác động lên giá dầu với giá Brent có lúc vượt 90 USD/thùng nhưng liên tục điều chỉnh khi thị trường kỳ vọng các nỗ lực ngoại giao giúp có thể khôi phục một phần dòng vận chuyển qua Hormuz. Đến ngày 28/8, Brent đóng cửa khoảng 89,31 USD/thùng, giảm hơn 5% trong tuần, trong khi WTI ở 83,40 USD/thùng. Đáng chú ý, mức giảm này không đồng nghĩa với việc rủi ro nguồn cung đã biến mất. Cung cầu và tồn kho vẫn là "chìa khóa" để ước định giá dầu và các nhà phân tích năng lượng đánh giá, mức giá Brent dưới 90 USD vào cuối tháng 8 phần nào phản ánh kỳ vọng về việc nguồn cung sẽ phục hồi, chứ chưa phải trạng thái cân bằng cung -cầu thực sự đã trở lại.
Như vậy, đến cuối tháng 8, thị trường chỉ báo có thể hấp thụ một phần cú sốc nguồn cung nếu nhu cầu đồng thời suy yếu và dòng dầu được tái định tuyến, song rủi ro giá vượt 100 USD/thùng vẫn chưa thể loại bỏ nếu Hormuz tiếp tục bị phong tỏa hoặc xung đột leo thang; ngược lại, nếu tuyến vận tải được khôi phục đáng kể, áp lực giảm giá sẽ quay trở lại do nguồn cung có khả năng tăng mạnh vào năm 2027. IEA hiện dự báo nguồn cung toàn cầu năm 2027 có thể tăng 8,3 triệu thùng/ngày, trong khi nhu cầu chỉ tăng khoảng 2,4 triệu thùng/ngày - một tín hiệu rất đáng chú ý đối với triển vọng dầu trung hạn.
Trong bối cảnh đó, giá hàng hóa "vàng đen" đã tác động đến tương quan của các doanh nghiệp ngành Dầu khí, đặc biệt nhóm doanh nghiệp dầu khí hạ nguồn như PLX và BSR có hoạt động điều chỉnh giá xăng dầu trong nước neo theo diễn biến giá dầu thế giới.
Tuy nhiên, với biên lọc dầu (crack spread) trong Quý III được kỳ vọng hạ nhiệt so với mức đỉnh nửa đầu năm nhưng vẫn duy trì trên mức trung bình năm 2025 do nguồn cung sản phẩm lọc dầu hồi phục chậm hơn dầu thô, triển vọng của các doanh nghiệp quý III được dự báo tiếp tục tích cực.
Kết quả kinh doanh quý II và bán niên của BSR và PLX đã ghi nhận những con số tăng trưởng ngoài dự báo. Với biên lọc dầu tăng, BSR đạt 15.933 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng gần 1.200% so với cùng kỳ. Song lưu ý đặc thù lãi của BSR đi theo chu kỳ lọc dầu nên biên lợi nhuận cũng có thể thay đổi.
Trong khi đó, PLX có triển vọng ổn định hơn nhờ nhu cầu tiêu thụ nội địa, thị phần mở rộng và lợi thế hệ thống phân phối. Đặc biệt, nhà phân phối xăng dầu thị phần lớn nhất cũng chịu tác động tích cực của cơ chế kinh doanh xăng dầu mới và lộ trình triển khai xăng E10 theo hướng có thể tạo thêm dư địa cải thiện sản lượng. Dù vậy, biến động tồn kho vẫn là rủi ro đối với lợi nhuận theo quý.
2 doanh nghiệp hạ nguồn trong chuỗi năng lượng dầu khí tiêu biểu của ngành cũng được nhìn nhận không hưởng lợi trực tiếp và đột biến từ tác động Luật Dầu khí sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, so với nhóm thượng nguồn được hưởng lợi lớn. Nói cách khác, diễn biến của giá dầu thế giới vẫn là một yếu tố quan trọng đối với hoạt động của PLX, BSR trong quý III và thời gian tới.
Giá thép Trung Quốc - thị trường giữ vai trò chi phối nguồn cung thép ra thế giới ghi nhận tiếp tục tăng trong đầu quý II, sau đó điều chỉnh giảm từ đầu tháng 5 và đạt 3.049 CNY/tấn vào cuối quý II/2026 (-2,4% qoq).
Giá thép Việt Nam tăng trưởng tích cực hồi đầu quý, nhưng ghi nhận giảm từ giữa tháng 6, xuống 15.120 đồng/kg vào cuối quý II/2026.

Giá thép Trung Quốc tăng trong bối cảnh nhu cầu thép được dự báo tăng 0,3% trong năm 2026 và 2,2% trong năm 2027, lượng tồn kho thép liên tục giảm và Chính phủ tiếp tục nỗ lực ổn định lĩnh vực bất động sản. Giá thép giảm trở lại trong bối cảnh lĩnh vực bất động sản tiếp tục suy thoái, nhu cầu thép nội địa suy yếu.
Giá thép Việt Nam tăng được lý giải có chi phối của bối cảnh giá nguyên vật liệu, năng lượng và chi phí vận chuyển tăng và nhu cầu xây dựng trong nước bước vào mùa cao điểm, nhưng giảm trở lại do chịu áp lực bởi giá thép Trung Quốc.
Theo chuyên gia VCBS, giá thép Trung Quốc quý III này dự báo đi ngang trong vùng giá thấp do nhu cầu nội địa yếu, triển vọng ngành vẫn ảm đạm, thị trường bất động sản suy thoái kéo dài. Tuy nhiên, giá thép dự báo khó tiếp tục giảm sâu do nhiều nhà máy thép đã ghi nhận tình trạng thua lỗ, sản lượng thép dự báo sẽ giảm trong thời gian tới.
Giá thép Việt Nam kỳ vọng hồi phục do ngành xây dựng kỳ vọng sẽ là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế, theo đó nhu cầu đối với vật liệu thép sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong trung hạn. Bên cạnh đó, nhu cầu xây dựng BĐS dân dụng đang gia tăng.
Diễn biến thực tế của 2 tháng đầu quý III (7 và 8) cũng cho thấy các kỳ vọng vẫn đang trong tiến trình tiệm tiến. Giá thép trong nước tháng 7 ghi nhận chịu áp lực giảm do nhu cầu yếu và dư cung; sang tháng 8 giá bắt đầu ổn định/phục hồi ở một số phân khúc, nhưng chưa hình thành một chu kỳ tăng giá mạnh và bền vững. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm và những tháng của quý III, tiêu thụ thép trong nước đang là điểm sáng, đặc biệt là tiêu thụ HRC (tác động đến Hòa Phát) khi các biện pháp phòng vệ thương mại đang và sẽ tiếp tục tác động lên nguồn cung.
Một điểm đáng chú ý là nửa cuối năm 2026, Việt Nam đang tăng tốc thúc đẩy đầu tư công với mức tiêu giải ngân theo chương trình vốn rất lớn cho năm nay. Đây là cơ hội của thép xây dựng và kỳ vọng có thể hướng đến mở rộng biên lợi nhuận ngành thép, đặc biệt nếu giá HRC Trung Quốc ngừng giảm, giá HRC Việt Nam tăng.
Ở góc độ tương quan cổ phiếu, HPG ghi nhận có mức độ tương quan cùng pha cao nhất nhóm ngành với 10% trong quý II/2026. HPG được định vị là mã chịu ảnh hưởng trực tiếp và quy mô lớn nhất từ chuỗi giá trị thép - quặng sắt.
HSG ghi nhận tỷ lệ tương quan cùng pha 6% trong quý II. Trong khi dữ liệu diễn biến cổ phiếu NKG tương quan tổng thể trong quý II đạt 2%.
Triển vọng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép đang gắn liền với kỳ vọng về một chu kỳ tăng giá thép mới và mở rộng biên lợi nhuận doanh nghiệp thép. Trong đó, HPG từ nền rất cao của nửa đầu năm với sản lượng HRC cao kỷ lục, lợi nhuận sau thuế đạt 15.480 tỷ đồng, tăng 103%, tức hơn gấp đôi cùng kỳ, được dự báo tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ nhờ lực cầu nội địa. Sau chu kỳ đầu tư lớn cho Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2, nhà máy Dung Quất 2 đang giúp HPG tăng doanh thu từ năng suất nâng lên và hòa nhịp tác động tích cực từ các biện pháp phòng vệ thương mại.
Với HSG, doanh thu thuần hợp nhất lũy kế 9 tháng niên độ tài chính 2025 - 2026 (1/10/2025 - 30/6/2026) ước đạt 27.358 tỷ đồng, tương đương 78% kế hoạch năm. Lợi nhuận sau thuế hợp nhất ước đạt 568 tỷ đồng, hoàn thành 114% kế hoạch lợi nhuận theo phương án 1 đã được ĐHĐCĐ thông qua. Do đó, quý IV của HSG sẽ khá "thong thả" khi không phải chạy đua kế hoạch niên độ, song Tập đoàn này như khẳng định của Chủ tịch HSG Lê Phước Vũ, vẫn nằm trong nhóm dẫn đầu thị trường và được kỳ vọng tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong nhiều năm tới, nhờ lợi thế thương hiệu cùng hệ thống phân phối rộng khắp. Qua đó, tiếp tục hưởng lợi từ kỳ vọng tăng tiêu thụ, tất yếu bởi nhu cầu xây dựng của nền kinh tế trong 2026 và cho cả chu kỳ tăng tốc các công trình xây dựng tới đây.