Trước biến động khó lường của thị trường dầu mỏ toàn cầu, bài toán với Việt Nam không phải là ghìm giá bằng mọi giá, mà là điều hành đúng công cụ để giảm sốc cho nền kinh tế.
Trước diễn biến giá dầu tăng mạnh từ đầu tháng 3/2026, việc phối hợp linh hoạt các công cụ chính sách và chủ động đi trước thị trường là bước quan trọng để ổn định kỳ vọng và hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Giá dầu biến động mạnh
Nhìn từ diễn biến mới nhất, thị trường dầu mỏ toàn cầu đang cho thấy một đặc điểm rất đáng lưu ý, biến động không còn đi theo xu hướng tuyến tính, mà theo mô hình tăng mạnh nhưng đảo chiều mạnh.
Ngày 7/3/2026, Bộ Công Thương cho biết bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới giữa hai kỳ điều hành 5-7/3 đã tăng rất mạnh, xăng RON92 tăng 23,44%, RON95 tăng 26,37%, dầu diesel tăng 35,94%, dầu hỏa tăng 36,12% và mazut tăng 27,17%. Cùng kỳ đó, giá bán lẻ trong nước tăng mạnh, với RON95 lên 27.047 đồng/lít và dầu diesel lên 30.239 đồng/lít.
Nhưng đến ngày 10/3/2026, thị trường quốc tế lại đổi chiều rất nhanh. Theo Reuters, giá dầu Brent sau khi từng tăng lên mức 119,50 USD/thùng trong phiên 9/3 đã giảm xuống quanh 92,45 USD/thùng vào ngày 10/3, trong bối cảnh kỳ vọng xung đột Trung Đông có thể hạ nhiệt.
Dù vậy, các nhà phân tích vẫn cảnh báo biên độ dao động ngắn hạn có thể rất rộng, khoảng 75-105 USD/thùng. Chính ở điểm này, vấn đề của Việt Nam không đơn thuần là “giá dầu đang tăng hay giảm”, mà là nền kinh tế phải đối mặt với một biến số đầu vào như thế nào. Doanh nghiệp không sợ giá dầu leo cao; họ sợ không dự đoán được mặt bằng chi phí cho giai đoạn sản xuất kinh doanh sắp tới.
Theo Bộ Công Thương cho biết hai nhà máy lọc hóa dầu trong nước hiện đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, còn khoảng 30% vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu; tổng tiêu thụ nội địa năm 2025 khoảng 28,6 triệu m³/tấn, tương đương bình quân 2,2-2,3 triệu m³/tấn mỗi tháng. Điều đó cho thấy mỗi đợt sóng giá quốc tế đều có khả năng “thẩm thấu” vào thị trường trong nước.
Phản ứng chính sách đúng
Trong bối cảnh giá dầu tăng, phản ứng chính sách cần được xây dựng một cách thận trọng và linh hoạt. Thay vì phụ thuộc vào một công cụ duy nhất để xử lý toàn bộ cú sốc, cách tiếp cận hiệu quả hơn là phối hợp nhiều công cụ chính sách, mỗi công cụ được sử dụng đúng với bản chất và nguồn gốc của biến động.

Trước hết, với giải pháp thuế, Chính phủ đã có phản ứng rất nhanh. Theo thông tin báo chí ngày 9-10/3/2026, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu đã được giảm xuống 0% trong giai đoạn từ 9/3 đến 30/4/2026. Đây là quyết định đúng về thời điểm, vì nó tác động trực tiếp vào giá cơ sở, giúp giảm bớt áp lực chi phí đầu vào, đồng thời phát tín hiệu mạnh rằng Nhà nước sẵn sàng chia sẻ cú sốc với doanh nghiệp và người dân.
Với Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, kinh nghiệm cho thấy đây là công cụ nên dùng có chọn lọc. Ngay trong kỳ điều hành 7/3, cơ quan quản lý đã quyết định không trích lập, không chi sử dụng quỹ. Cách làm này cho thấy Nhà nước đang ưu tiên phản ánh tín hiệu thị trường trong bối cảnh biên độ biến động thế giới quá lớn.
Theo tôi, quỹ chỉ nên được sử dụng khi hội đủ ba điều kiện: Một là cú sốc có tính nhất thời nhưng biên độ đủ lớn để gây tâm lý hoảng loạn; Hai là cần làm “mềm” đà tăng để tránh lan sang mặt bằng giá chung; Ba là quy mô can thiệp vẫn nằm trong ngưỡng không làm méo tín hiệu thị trường. Nếu dùng quỹ để níu giá quá lâu trong khi thế giới đã sang một trạng thái mới, thì quỹ sẽ chỉ làm chậm quá trình thích nghi, thậm chí tạo kỳ vọng sai cho thị trường.
Quan trọng hơn cả là bảo đảm nguồn cung. Bộ Công Thương cho biết nguồn cung tháng 3/2026 cơ bản được bảo đảm, song đồng thời cũng thừa nhận nguy cơ thiếu hụt cục bộ có thể xảy ra tại một số địa phương nếu áp lực nhập khẩu, vận chuyển và phân phối tăng lên. Trong các cú sốc năng lượng, thiếu hàng còn nguy hiểm hơn tăng giá, vì khi thị trường mất niềm tin vào khả năng cung ứng liên tục, đầu cơ và tâm lý mua gom sẽ xuất hiện.
Giải pháp dài hạn
Về dài hạn, Việt Nam cần đi nhanh hơn theo bốn hướng: Thứ nhất, nâng tính linh hoạt của nguồn cung trong nước. Không chỉ là công suất lọc dầu, mà còn là năng lực dự trữ, điều độ và phân phối. Quy hoạch năng lượng quốc gia đã đặt mục tiêu nâng tổng mức dự trữ xăng dầu cả nước lên 75-80 ngày nhập ròng vào năm 2030. Mục tiêu này cần được thúc đẩy với tinh thần khẩn trương hơn, vì trong bối cảnh địa chính trị mới, dự trữ không còn là chi phí, mà là “bảo hiểm vĩ mô”.
Thứ hai, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tuyến vận chuyển. Khi rủi ro tập trung ở Trung Đông và eo Hormuz, phụ thuộc vào một số tuyến hay một số đối tác sẽ làm tăng chi phí bảo hiểm và cước vận tải. Đa dạng hóa nguồn không làm giá rẻ ngay, nhưng làm nền kinh tế bớt dễ tổn thương.
Thứ ba, thúc đẩy nhiên liệu sinh học và các nguồn thay thế. Đây không phải câu chuyện môi trường đơn thuần, mà là câu chuyện giảm phụ thuộc nhập khẩu và tăng dư địa chính sách trong nước. Các động thái gần đây của Chính phủ và Bộ Công Thương về thúc đẩy nhiên liệu sinh học cho thấy đây là hướng đi cần đẩy mạnh hơn nữa.
Thứ tư, nâng chất lượng điều hành truyền thông chính sách. Trong các đợt điều chỉnh giá, thông tin minh bạch có giá trị không kém công cụ tài khóa. Doanh nghiệp cần biết Nhà nước đang nhìn nhận đợt cao điểm này là ngắn hạn hay kéo dài, công cụ nào đang được dùng, ngưỡng nào sẽ kích hoạt phản ứng mới. Truyền thông tốt giúp neo kỳ vọng; qua đó sẽ giảm được chi phí chống lạm phát về sau.
Có thể nói, thị trường dầu mỏ hiện nay ở trạng thái "khó đoán định”. Ngay trong 48 giờ, giá có thể từ trên 119 USD/thùng rơi xuống quanh 92 USD/thùng. Điều cần nhất lúc này là một tư duy ứng phó ba lớp giảm sốc ngắn hạn bằng thuế và điều hành giá hợp lý; giữ ổn định trung hạn bằng bảo đảm nguồn cung, chống đầu cơ và hỗ trợ đúng đối tượng; và củng cố sức chống chịu dài hạn bằng dự trữ, đa dạng nguồn, tăng tự chủ năng lượng.