Việt Nam hướng tới hệ sinh thái sản xuất xanh, nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ và mở rộng cơ hội thu hút FDI thế hệ mới.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang có những chuyển dịch mạnh mẽ, các tập đoàn quốc tế ngày càng đặt yêu cầu cao hơn đối với hạ tầng công nghiệp, năng lực cung ứng tại chỗ, công nghệ, nguồn nhân lực, tiêu chuẩn môi trường và tính bền vững của điểm đến đầu tư.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ đồng bộ, hiện đại và xanh không chỉ là yêu cầu đối với phát triển sản xuất bền vững, mà đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phát biểu tại Hội thảo “Hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ - Nền tảng thu hút FDI thế hệ mới”, trong khuôn khổ Triển lãm Giao thương Quốc tế ngành Chế tạo lần thứ 10 - FBC ASEAN 2026 diễn ra chiều 17/9 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC), ông Phạm Thanh Bình - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến, Thông tin và Hỗ trợ đầu tư phía Bắc, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính cho rằng cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, trong khi dòng vốn quốc tế đang dịch chuyển theo hướng xanh, thông minh và có giá trị gia tăng cao. Vì vậy, mục tiêu thu hút FDI không còn đơn thuần là số vốn hay số dự án. Việt Nam cần quan tâm đến hiệu quả đầu tư, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước và nâng vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Bình cho biết, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra cách tiếp cận mới, từ chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển khu vực kinh tế có vốn FDI theo hướng lâu dài, hiệu quả. Các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu được ưu tiên. Đồng thời, chính sách ưu đãi đầu tư sẽ ngày càng gắn với những đóng góp thực tế của dự án như công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam.
“Quyết định đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia không chỉ phụ thuộc vào các ưu đãi, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực, logistics. Một khu công nghiệp xanh, kết nối chặt chẽ giữa nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, các đối tác R&D và tổ chức tài chính sẽ tạo điều kiện để dòng vốn không chỉ đến mà còn mở rộng sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam”, ông Bình nhấn mạnh.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Trần Thị Thu Hiền - Thành viên Ban Hạ tầng VASI, Tổng Giám đốc DTJ Industrial cho rằng khái niệm “xanh” cần được nhìn rộng hơn việc tăng diện tích cây xanh hay sử dụng năng lượng tái tạo. Theo bà Hiền, một hệ sinh thái xanh cần có năng lượng và nước tuần hoàn, vật liệu tái chế, hoạt động cộng sinh giữa các doanh nghiệp và dữ liệu kết nối để tối ưu vận hành.
Bà Hiền dẫn chứng ba mô hình quốc tế tiêu biểu gồm Kalundborg của Đan Mạch với mô hình cộng sinh công nghiệp; đảo Jurong của Singapore với hệ thống hạ tầng dùng chung về năng lượng, nước, logistics; và Ulsan của Hàn Quốc với mô hình liên kết giữa chính quyền, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

Từ những mô hình này, bà Hiền cho rằng Việt Nam có thể xây dựng cách tiếp cận phù hợp với điều kiện trong nước, trước hết thông qua các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành. Hạ tầng cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, có cơ chế vận hành rõ ràng và tận dụng được các nguồn lực dùng chung để giảm chi phí.
Đối với khu vực phía Bắc, VASI và DTJ Industrial xác định các địa bàn như Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình có tiềm năng hình thành những hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ nhờ lợi thế về ngành nghề, hạ tầng giao thông và logistics.
Mô hình cần được triển khai theo hướng chọn địa bàn, ngành nghề thí điểm, xây dựng bộ tiêu chí, dữ liệu kết nối và cơ chế vận hành trước khi nhân rộng. Trong đó, ESG, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và tài chính xanh cần được tích hợp ngay từ quá trình quy hoạch, phát triển hạ tầng.
"Thông qua kết nối hạ tầng - doanh nghiệp - công nghệ - năng lượng - tài chính - logistics và chính sách, DTJ Industrial chủ động thúc đẩy quá trình tương hỗ, cộng sinh, nâng cao tính sẵn sàng của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước, đồng thời tạo nền tảng để hình thành các cụm công nghiệp có hệ sinh thái hạ tầng xanh. Qua đó mang lại giá trị thiết thực cho nhà đầu tư FDI và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, cùng nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và phát triển ngày càng lớn mạnh" - bà Hiền nhấn mạnh.
Tại hội thảo, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho biết, Bộ Công Thương đang xây dựng, hoàn thiện các chính sách, trong đó có Luật Công nghiệp trọng điểm và sửa đổi, bổ sung Nghị định 111 về phát triển công nghiệp hỗ trợ, nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất và đầu tư công nghệ mới.
Đáng chú ý, theo Nghị quyết 10, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu có 10% khu công nghiệp đạt tiêu chí khu công nghiệp sinh thái. Với khoảng 430 khu công nghiệp trên cả nước, đây là mục tiêu đòi hỏi những mô hình tiên phong và cách làm cụ thể để nhân rộng.
Từ đó, đại diện Bộ Công Thương đề nghị VASI và DTJ Industrial tập trung vào ba nhiệm vụ: Gắn phát triển khu công nghiệp với hệ sinh thái công nghiệp sinh thái; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI; đồng thời đào tạo, nâng cao năng lực và tiêu chuẩn quốc tế để doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong khuôn khổ Hội thảo đã diễn ra Lễ ký kết hợp tác giữa Công ty Công nghiệp Bảo Minh – Khu công nghiệp Hải Long, Ban Hạ tầng VASI và DTJ Industrial. Thỏa thuận hợp tác hướng tới xúc tiến, thu hút doanh nghiệp và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ trọng điểm như ô tô, xe điện, cơ khí chế tạo, linh kiện – phụ tùng. Đồng thời, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng, phát triển hạ tầng và dịch vụ công nghiệp tại Khu công nghiệp Hải Long.

Ký kết hợp tác giữa Ban Hạ tầng và Ban Bề mặt – Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI). Theo đó, Ban Hạ tầng VASI sẽ hỗ trợ Ban Bề mặt tiên phong triển khai chương trình kiến tạo hệ sinh thái liên kết – cộng sinh – tối ưu chi phí hạ tầng cho cùng một nhóm ngành xử lý bề mặt.
Mô hình hướng tới tiết kiệm chi phí logistics, sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải, đồng thời ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong xử lý tuần hoàn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hướng tới mô hình sản xuất xanh và tiết kiệm nước.