Chuyên đề

Hoàn thiện cơ sở hạ tầng tài chính - Mở rộng kênh vốn cho kinh tế tư nhân

Lê Mỹ 26/06/2026 11:00

Cơ sở hạ tầng tài chính của Việt Nam hiện nay được đánh giá có nhiều điểm phát triển hơn so với các quốc gia đang phát triển và mới nổi khác trong khu vực, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

Cơ sở hạ tầng tài chính của Việt Nam bao gồm các trụ cột về Báo cáo tín dựng, Giao dịch Bảo đảm, và các Chế định về mất khả năng thanh toán và phá sản, hiện nay được đánh giá có nhiều điểm phát triển hơn so với cơ sở hạ tầng tài chính của các quốc gia đang phát triển và mới nổi trong khu vực. Tuy nhiên, để nâng cao tiếp cận tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Viêt Nam vẫn cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa Cơ sở Hạ tầng Tài chính, qua đó thúc đẩy dòng chảy vốn để đáp ứng nhu cầu tiếp cận vốn của doanh nghiệp cho hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số.

Ông Jinchang Lai - Chuyên gia trưởng và Trưởng nhóm phát triển cơ sở hạ tầng tài chính, Khu vực châu Á Thái Bình Dương, Nhóm Tư vấn các định chế tài chính, IFC và Trưởng nhóm Mạng lưới Phát triển cơ sở hạ tầng Tài chính của APFF - APEC, trả lời phỏng vấn của Diễn đàn Doanh nghiệp.

Ong Jin11
Ông Jinchang Lai - Chuyên gia trưởng và Trưởng nhóm phát triển cơ sở hạ tầng tài chính (IFC)

- Để gánh vác mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, hệ thống ngân hàng Việt Nam dường như đang quá tải khi phải 'bao bọc' toàn bộ thị trường. Từ góc độ cần phải nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở hạ tầng tài chính của Việt Nam cần phải đổi mới thế nào để trở nên hoàn thiện hơn, thưa ông?

Ông Jinchang Lai: Việt Nam hiện nay đã có cơ sở hạ tầng tài chính được xây dựng khá tốt, trong đó, có hệ thống báo cáo tín dụng rất tốt, cùng với một khuôn khổ giao dịch bảo đảm hợp lý và hệ thống giải quyết phá sản, xử lý mất khả năng thanh toán tương đối chất lượng. Bên cạnh đó, hệ thống thanh toán cũng đã phát triển và đang vận hành ở mức độ hiệu quả và hợp lý. Nhìn chung, theo đánh giá của tôi hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam đã phát triển khá tốt và thị trường vốn cũng đang trên đà tăng trưởng.

Tuy nhiên, điểm khuyết và thiếu hụt lớn nhất của Việt Nam hiện nay nằm ở khối các tổ chức tín dụng phi ngân hàng hay còn gọi là các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi của công chúng. Nền kinh tế không thể chỉ dựa hoàn toàn vào khoảng hơn 40 ngân hàng hiện có, đặc biệt khi nhiều ngân hàng còn có quy mô nhỏ. Nếu tiếp tục phụ thuộc vào mô hình ngân hàng truyền thống này, sự tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, tôi cho rằng Việt Nam đang rất cần sự xuất hiện của nhiều tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, bao gồm các công ty tài chính cho vay doanh nghiệp, công ty bao thanh toán, công ty mua bán nợ, công ty cho thuê tài chính và các quỹ đầu tư vào thị trường nợ...

Nhìn chung, sự đa dạng trong mảng thị trường vốn và thị trường nợ của Việt Nam hiện còn khiêm tốn. Gần như tại Việt Nam, khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn họ luôn nghĩ tới đi vay ngân hàng đầu tiên. . Chính điều này sẽ cản trở tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ, qua đó dẫn tới sự khó khăn trong tăng trưởng của doanh nghiep và ảnh hưởng tới việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam. Việc đa dạng hóa các bên cung cấp dịch vụ tài trợ doanh nghiệm là một phương thức quan trọng và cần thiết cho ngành tài chính của Việt Nam.

- Ông có thể cho biết cụ thể hơn định hướng nào để tối ưu hóa cơ sở hạ tầng tài chính, đa dạng hóa hơn nữa nguồn vốn cho doanh nghiệp Việt Nam, thưa ông?

Ông Jinchang Lai: Để tối ưu hóa cơ sở hạ tầng tài chính, có ba lĩnh vực điển hình mà Việt Nam cần học tập từ các thị trường phát triển để thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.

Đầu tiên là cần phát triển các sản phẩm cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là phân khúc doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các sản phẩm này có thẻ bao gồm tài trợ cho doanh nghiệp dựa trên dòng tiền (các khoản phải thu) và hàng hóa luân chuyển trong kinh doanh, sản phẩm cho vay dựa vào dữ liệu và phân tích dữ liệu, v.v... Tại các quốc gia phát triển, các tổ chức tài chính thường tối ưu hóa sâu sắc dữ liệu và sản phẩm phân tích dữ liệu về khách hàng vay để phê duyệt khoản vay. Hiện tại, mảng cho vay doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa thực sự hoàn thiện và phát triển.

Bên cạnh đó phát triển thị trường tài trợ vốn dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo đó tài trợ vốn dựa trên động sản nên được phát triển mạnh mẽ thay vì bất động sản. Bên cạnh đó giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng cũng là một điểm cần phả chủ trọng, từ đó có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam gia nhập vào chuỗi toan cầu cạnh tranh hơn. Thị trường tài chính Việt Nam hiện tại vẫn tập trung phần lớn tài sản bảo đảm là bất động sản. Dù dư địa tài trợ vốn dựa trên động sản tại Việt Nam rất lớn và đã có những con số bước đầu khá ấn tượng, nhưng tỷ trọng này vẫn cần được nâng cao hơn nữa để thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến.

Thứ hai, Việt Nam cần phát triển mạnh mẽ các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi của công chúng (NDTLs) . Sự thiếu vắng các tổ chức này trên thị trường đã cản trở khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. Tại các nước có thị trường tài chính phát triển, số lượng các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi này thường lớn gấp 10 lần các ngân hàng thương mại. Các tô chức cho vay không nhận tiền gửi này thường có tính năng động hơn, khả năng áp dụng công nghệ thông tin cũng nhanh nhạy hơn và có thể tiếp cận tới các doanh nghiệp có rủi ro cao hơn và khó tiếp cận các khoản vay tại ngân hàng. Các NDTLs này có thể là các công ty tài chính thương mại, công ty cho thuê tài chính, công ty bao thanh toán, v.v….

Thứ ba là cần phải xây dựng hệ sinh thái tài trợ vốn. Đây không đơn thuần là mối quan hệ truyền thống giữa một bên cho vay và một bên đi vay vốn đã cũ kỹ, mà là một hệ sinh thái kỹ thuật số đa bên, kết nối các nền tảng doanh nghiệp với doanh nghiệp, chuỗi logistics hoặc các cụm công nghiệp đặc thù, giúp bên cho vay tận dụng được dữ liệu trong hệ sinh thái để tăng cường quan hệ với các bên trong hệ sinh thái tài chính.

Một ví dụ có thể đề cập là bên đầu tư xây dựng hệ thống kho lạnh, và sau đó đã xây dựng nền tảng quản lý chuỗi cung ứng. Thay vì chỉ cho thuê kho lạnh, thì nhà đầu tư đã tối ưu hóa hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, mà theo đó các bên liên quan sẽ tham gia vào hệ thống này, bao gồm, chính phủ, bên bán, bên mua, nhà bán buốn bán sỉ, nhà bán lẻ, các bên công ty tài vận (logistics) và các ngân hàng. Tại nền tảng quản lý chuỗi cung ứng này, các bên sẽ công khai và mình bạch các giao dịch mua bán của mình bao gồm đơn đặt hàng, hóa đơn bán háng, lịch sủ dịch chuyển của hàng hóa, v,v,.,,,. Các tổ chức cho vay khi tham gia vào hệ sinh thái này có thể có dữ liệu công khai minh bạch về dòng tiền của bên bán, và dòng chảy hàng hóa, qua đó có thể tối ưu được hệ sinh thái tài chính này đẻ tài trợ cho bên bán hàng, hay tài trợ cho bên mua hàng, hay tài trợ cho nhà phân phối, v.v..

- Việt Nam thực tế cũng đã và đang có nhiều quyết sách để xây dựng và phát triển kinh tế tư nhân. vậy,theo ông, trong bối cảnh hiện nay, đâu là trọng tâm cần ưu tiên để khơi dòng vốn phi tín dụng hiệu quả cho doanh nghiệp?

Ông Jinchang Lai: Về cơ chế chính sách, Việt Nam đã ban hành hàng loạt văn bản pháp lý, nghị quyết và nghị định quan trọng nhằm thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, đơn cử như Nghị quyết 68-NQ/TW, các luật về công nghệ số và cải cách thủ tục hành chính. Bên cạnh đó là các chính sách về thực thi pháp luật, định hướng thành lập trung tâm tài chính quốc tế như Nghị quyết 222 của Quốc hội, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo... Những quyết sách này là nền tảng cốt lõi định hướng cho các cấp chính quyền địa phương, khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính phối hợp triển khai. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai con số, c cơ sở hạ tầng tài chính buộc phải hoàn thiện để thúc đấy tiếp cận vỗn cho DNVVN, qua đó khơi thông dòng vốn toàn diện cho toàn bộ nền kinh tế tư nhân.

Bên cạnh việc xây dựng các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do dự kiến hay triển vọng nâng hạng thị trường vốn để khơi thông dòng vốn cho các hệ sinh thái tài chính chuỗi cung ứng, theo tôi, một giải pháp quan trọng trong thị trường vốn là việc phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn được bảo đảm bằng các khoản phải thu. Mô hình này giúp giải quyết sự thiếu hụt tài chính lớn đang cản trở doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Các doanh nghiệp lớn hoặc tổ chức tài chính có thể trực tiếp phát hành trái phiếu sử dụng chính các khoản phải thu của doanh nghiệp, khoản phải thu từ vận hành cơ sở hạ tầng và dịch vụ tiện ích,các khoản phải thu thẻ tín dụng

Cách thứ hai là doanh nghiệp bán các khoản phải thu này cho một cơ quan có chức năng đặc biệt (SPV), sau đó đơn vị này sẽ phát hành trái phiếu dựa trên các khoản phải thu đã mua. Hay nói cách khác đây là quy trình chứng khoán hóa các khoản phải thu. Thị trường này cần phải được phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam để tránh bỏ lỡ một nguồn tài trợ tài chính khổng lồ. Dòng vốn khi được cấp cho doanh nghiệp trên động sản được hình thành từ sản xuất kinh doanh, cũng luôn bảo đảm tính an toàn cho hệ thống tài chính.

-Trân trọng cảm ơn Ông!

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng tài chính - Mở rộng kênh vốn cho kinh tế tư nhân
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO