VCCI đưa ra nhiều kiến nghị nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành, góp phần xây dựng hành lang pháp lý minh bạch, ổn định để khai thác tài sản trí tuệ trong kỷ nguyên số.
Mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý đối với Dự thảo Báo cáo tổng kết việc triển khai thi hành Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan (Dự thảo). Theo đó, VCCI đã tổng hợp ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp và đưa ra một số kiến nghị đáng chú ý, tập trung vào hai nhóm vấn đề lớn là quản lý – khai thác quyền và cơ chế bảo vệ quyền trong môi trường số.

Theo phản ánh của doanh nghiệp, thủ tục hành chính xác lập quyền tác giả còn mang tính thủ công, thiếu linh hoạt và thời gian xử lý kéo dài. Cụ thể, Điều 39 Nghị định 17/2023/NĐ-CP yêu cầu tác giả hoặc chủ sở hữu phải trực tiếp ký tên hoặc điểm chỉ vào tờ khai, dù đã có cơ chế ủy quyền hợp pháp. Quy định này, theo VCCI, gây khó khăn đặc biệt cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài, làm gia tăng đáng kể chi phí và thời gian thực hiện, đồng thời chưa tương thích với nguyên tắc quyền tác giả phát sinh tự động.
Đáng lưu ý, các doanh nghiệp cũng lo ngại về tình trạng các cơ quan thực thi thường coi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là điều kiện bắt buộc để xử lý xâm phạm, thay vì chỉ là một loại chứng cứ (theo quy định của pháp luật, quyền tác giả, quyền liên quan không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký). Cách tiếp cận này làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền và gây tốn kém không cần thiết cho các chủ thể quyền.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh, khoảng trống pháp lý đối với tác phẩm tạo ra từ trí tuệ nhân tạo (AI) và hoạt động khai thác văn bản, dữ liệu (Text and Data Mining – TDM) cũng được chỉ ra là vấn đề nổi cộm. Việc thiếu hướng dẫn cụ thể khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc xác định chủ thể quyền và phạm vi bảo hộ khi đầu tư vào các mô hình kinh doanh dựa trên huấn luyện AI.
Bên cạnh đó, hoạt động khai thác thương mại tài sản trí tuệ cũng đang thiếu hướng dẫn chi tiết về phạm vi chuyển giao quyền, đặc biệt trong các quan hệ lao động và thuê ngoài (outsourcing, freelancer, agency). Điều này dẫn tới khó khăn trong việc xác định chủ thể quyền, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp khi thương mại hóa tác phẩm trong các ngành sáng tạo và công nghệ.
Một vấn đề khác được cộng đồng doanh nghiệp phản ánh là ranh giới sử dụng tác phẩm trên môi trường số còn thiếu rõ ràng. Dù pháp luật đã quy định về giới hạn quyền tác giả và các trường hợp ngoại lệ, nhưng việc áp dụng trong bối cảnh mạng xã hội, livestream, quảng cáo trực tuyến… vẫn nhiều lúng túng. Thiếu hướng dẫn cụ thể khiến doanh nghiệp khó xác định trường hợp nào phải xin phép, trường hợp nào được áp dụng ngoại lệ, từ đó gia tăng rủi ro pháp lý.
Từ thực tiễn trên, VCCI đề xuất bổ sung quy định theo hướng cho phép cơ chế ủy quyền linh hoạt, phù hợp với Bộ luật Dân sự; công nhận địa vị pháp lý đối với tác phẩm do AI tạo ra trong trường hợp có sự can thiệp sáng tạo của con người, xác định chủ sở hữu là người đầu tư hoặc vận hành hệ thống; thiết lập giới hạn quyền tác giả phục vụ hoạt động TDM; yêu cầu minh bạch mức độ sử dụng AI trong hồ sơ đăng ký; đồng thời bổ sung hướng dẫn cụ thể về xác định chủ thể quyền trong quan hệ lao động, thuê ngoài và làm rõ các trường hợp ngoại lệ trên không gian mạng.
Một vấn đề khác được các doanh nghiệp phản ánh, theo VCCI, ở góc độ bảo vệ quyền, việc thực thi quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường số đang gặp nhiều thách thức.
Thứ nhất, quy trình phát hiện, thu thập và lưu giữ chứng cứ xâm phạm trên môi trường số chưa đầy đủ. Mặc dù, Điều 57, 58, 77, 78, 111 Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền, nhưng quy định này vẫn thiếu các hướng dẫn chi tiết, thống nhất về việc thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ điện tử, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến nền tảng trung gian nước ngoài.
Thứ hai, pháp luật hiện chưa có hướng dẫn cụ thể về xác định thiệt hại phi vật chất, lợi nhuận bất hợp pháp cũng như tiêu chí “quy mô thương mại” – căn cứ quan trọng để xác định ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự. Việc thiếu tiêu chí định lượng rõ ràng (như số lượng bản sao, doanh thu thu được…) khiến cả doanh nghiệp và cơ quan thực thi lúng túng trong phân loại hành vi vi phạm là dân sự, hành chính hay hình sự.

Thứ ba, đối với quyền nhân thân, hiện chưa có hướng dẫn phân biệt giữa chỉnh sửa kỹ thuật cần thiết cho khai thác hợp pháp với hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả. Sự thiếu rõ ràng này vừa cản trở hoạt động tái sử dụng tác phẩm, vừa làm gia tăng nguy cơ tranh chấp pháp lý.
Từ đó, VCCI kiến nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định theo hướng xây dựng cơ chế thống nhất về thu thập, bảo quản và sử dụng chứng cứ điện tử; làm rõ nội hàm và cách áp dụng khái niệm “quy mô thương mại”.
“Đồng thời cần ban hành phương pháp tính toán thiệt hại phi vật chất trong môi trường số và hướng dẫn cụ thể ranh giới giữa chỉnh sửa kỹ thuật hợp pháp với hành vi xâm phạm quyền nhân thân”, VCCI nêu rõ.