Từ trạng thái phân tán, thiếu chuẩn hóa, dữ liệu từ các cơ quan, đơn vị, được đưa vào một không gian giao dịch có tổ chức. Ở đó, dữ liệu được xác thực, tìm kiếm, tiếp cận, trao đổi và khai thác theo những nguyên tắc minh bạch, có kiểm soát.
Đặc biệt, một bộ dữ liệu từ tài sản nội bộ được lưu thông sẽ trở thành đầu vào cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, sản xuất kinh doanh. Cơ hội từ thị trường dành cho các doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực, quy mô khác nhau; các tổ chức, viện nghiên cứu, trường đại học, các định chế tài chính… vừa có thể trở thành bên mua, bên bán vừa tạo ra giá trị từ dữ liệu.

Thể chế tạo “luồng chảy” cho dữ liệu
Trong nền kinh tế số, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào khả năng sở hữu, tiếp cận và khai thác dữ liệu. Ở giai đoạn AI phát triển mạnh như hiện nay, dữ liệu còn là đầu vào cốt lõi, giúp doanh nghiệp phân tích dữ liệu lớn, nhận diện xu hướng, quyết định chất lượng và khả năng thương mại hóa sản phẩm.
Theo ông Hồ Đức Thắng - Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội: Việt Nam có nhiều tiềm năng về năng lực nghiên cứu AI; số lượng startup AI tăng gấp 4,5 lần trong giai đoạn 2021 - 2024, đứng thứ 2 Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, việc chủ động chuẩn hoá dữ liệu, bảo vệ, chia sẻ một cách có trách nhiệm là cần thiết. Nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc hay tại EU cũng đang triển khai. Tuy mỗi nơi cách thức triển khai riêng nhưng có một mẫu số chung tồn tại, đó là dữ liệu chỉ tạo ra giá trị khi “chảy” được và “chảy” trên cơ sở của niềm tin pháp lý.
Tại Việt Nam, Luật Dữ liệu định hướng phát triển dữ liệu trở thành tài sản và phát triển thị trường dữ liệu. Nghị định số 314/2026/NĐ-CP về hoạt động của sàn dữ liệu là bước quan trọng, hiện thực mục tiêu trên. Theo chuyên gia, trong chuẩn mực pháp lý hiện đại, câu hỏi đặt ra không phải “có được giao dịch dữ liệu hay không” mà là cung cấp dịch vụ gì, trên dữ liệu nào, với trách nhiệm ra sao? Sự xuất hiện của sàn dữ liệu không đồng nghĩa với việc mọi dữ liệu đều có thể được đưa lên thị trường để mua bán, trao đổi mà khả năng khai thác dữ liệu luôn đi cùng giới hạn pháp lý và trách nhiệm quản trị. Giá trị kinh tế của dữ liệu không thể tách rời giá trị pháp lý của dữ liệu. Đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa thị trường dữ liệu với một thị trường hàng hóa thông thường.
Ông Hồ Đức Thắng nhấn mạnh thêm: Thị trường dịch vụ dữ liệu là một hệ sinh thái dịch vụ tri thức cao với nhiều hoạt động như thu thập hợp pháp, làm sạch chuẩn hóa, gắn nhãn khử nhận dạng, kiểm thử chất lượng, phát hiện thiên lệch, cấp phép, định giá, kiểm toán trung gian và chia sẻ an toàn.
Từ góc độ thị trường, nhóm nghiên cứu Viện Nghiên cứu Chính sách và phát triển truyền thông lấy ví dụ tại Nhật Bản: Khi nguồn dữ liệu khí tượng và cảnh báo thiên tai mở, doanh nghiệp đã phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụ giá trị gia tăng trên nền dữ liệu công.
Tương tự, tại Mỹ, sau khi mở dữ liệu, các hoạt động phân tích dự báo từ dữ liệu đang hướng tới doanh thu khoảng 1 tỷ USD.
Tại Việt Nam, hoạt động thương mại hóa dữ liệu có thể chia thành ba tầng gồm dữ liệu gốc, phân tích dữ liệu và các dịch vụ dựa trên dữ liệu. Đi cùng với đó là các cơ chế, chính sách cần thu hút đầu tư tư nhân, thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao chất lượng dữ liệu; đồng thời tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch dữ liệu, cơ chế thuế - phí, tiêu chuẩn kỹ thuật, công nghệ bảo vệ quyền riêng tư nhằm bảo đảm thị trường dữ liệu phát triển an toàn, minh bạch và có trách nhiệm.
Thay đổi tư duy kinh tế dữ liệu
Về mặt hạ tầng, Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, tạo nền tảng cho việc kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. Theo Trung tâm Dữ liệu quốc gia, đến nay đã có 73 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành được kết nối, với khoảng 450 triệu bản ghi và 7.300 thuộc tính dữ liệu. Trên nền tảng này, 350 thủ tục hành chính đã được cắt giảm hoặc thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu, 82 dịch vụ công toàn trình dựa trên dữ liệu đang được triển khai.
Từ góc độ doanh nghiệp, việc kết nối lưu thông dữ liệu không chỉ tạo cơ hội cho doanh nghiệp tìm kiếm dữ liệu theo nhu cầu mà còn tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp đang sở hữu hoặc có quyền khai thác dữ liệu biến tài sản dữ liệu thành giá trị kinh tế thông qua phát triển các bộ dữ liệu chuyên ngành, mô hình kinh doanh, dịch vụ mới.
Cơ hội gia tăng giá trị dữ liệu được xem là động lực để doanh nghiệp, tổ chức quan tâm hơn đến chất lượng, khả năng lưu trữ, cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu. Tại diễn đàn mới đây, ông Nguyễn Quang Đạt - Giám đốc kinh doanh Seagate Vietnam cho biết: Hiện nay những trao đổi của chúng tôi với khách hàng đang chuyển từ phần cứng sang dữ liệu nhiều hơn với điểm nhấn liên quan đến chất lượng, nguồn gốc, cách sử dụng dữ liệu đưa ra quyết định…
Khi dữ liệu được chia sẻ có kiểm soát, tạo ra nguồn lự sẽ tạo thành cú hích để doanh nghiệp nhìn nhận, định hình và tư duy lại tầm quan trọng của dữ liệu, từ đó đầu tư cho việc thu thập, lưu trữ, làm sạch tạo ra dữ liệu chất lượng. Câu hỏi đặt ra với doanh nghiệp không chỉ là cần dữ liệu gì mà cần tìm câu trả lời cho việc mình đang có dữ liệu gì, dữ liệu đó có giá trị với ai và có thể tạo ra giá trị như thế nào?
Đặt ra vấn đề này, theo đại diện Seagate Vietnam, so sánh trong khu vực, không ít doanh nghiệp tại Việt Nam chưa nhìn nhận giá trị của dữ liệu. Ngay cả đầu tư nhiều nguồn cho hệ thống camera giám sát, video nhưng có thể bỏ qua lãng phí mà chưa nghĩ tới việc sẽ sử dụng hay khai thác giá trị gì từ dữ liệu đó để sử dụng, tối ưu hóa hệ thống, công việc.
Theo Nghị định 314/2026/NĐ-CP, dữ liệu được giao dịch trên sàn không được thuộc các trường hợp pháp luật cấm giao dịch; không được làm lộ bí mật Nhà nước, dữ liệu cá nhân, dữ liệu hạn chế tiếp cận hoặc những loại dữ liệu mà pháp luật không cho phép chia sẻ. Với dữ liệu được hình thành từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, yêu cầu còn chặt chẽ hơn. Việc khai thác, cung cấp phải được cơ quan hoặc chủ thể có thẩm quyền cho phép, ngoại trừ dữ liệu mở đã được công bố.