Nghị quyết 79-NQ/TW đã khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, phân định rõ chức năng và siết chặt cơ chế giám sát.
Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà cho thấy một sự chuyển hướng quan trọng trong tư duy chính sách khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước phải đi kèm với một khuôn khổ pháp lý đủ rõ ràng để quyền lực kinh tế được vận hành có kiểm soát, tránh xung đột lợi ích và thất thoát nguồn lực. Tuy nhiên, để những định hướng trong Nghị quyết 79-NQ/TW không dừng lại ở thông điệp chính sách, mà thực sự tạo chuyển biến trong thực tiễn, vấn đề then chốt nằm ở cách thức tổ chức thực hiện và hoàn thiện thể chế đi kèm.

Từ góc nhìn chuyên gia, nhiều ý kiến cho rằng, Nghị quyết lần này đã chạm đúng “điểm nghẽn” lâu nay của kinh tế nhà nước, nhưng muốn đi vào cuộc sống, cần một khuôn khổ pháp lý đủ rõ, đủ chặt để phân định trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Chuyên gia kinh tế, PGS, TS Ngô Trí Long cho rằng, nếu phải chọn một “từ khóa” để Nghị quyết 79-NQ/TW thực sự đi vào đời sống, thì đó là phân định rõ để ràng buộc trách nhiệm rõ.
Theo ông, Nghị quyết đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, thực thi nghiêm, đồng thời tách bạch rành mạch ba chức năng vốn lâu nay còn chưa rành mạch.
Cụ thể, đó là chức năng quản lý nhà nước (làm luật, ban hành chính sách, thanh tra – kiểm tra); chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước (quản trị phần vốn như một nhà đầu tư); và chức năng của doanh nghiệp (kinh doanh theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả). Đây là “điểm nghẽn” lâu nay khi một chủ thể vừa làm chính sách, vừa làm chủ sở hữu, vừa can thiệp điều hành... rất dễ dẫn tới xung đột lợi ích, cơ chế xin - cho và khó quy trách nhiệm. Nghị quyết 79-NQ/TW, về bản chất, đang yêu cầu xây dựng một “đường ray pháp lý” để quyền lực kinh tế Nhà nước vận hành có kiểm soát.
Chuyên gia này nhấn mạnh, một nghị quyết muốn “sống” được trong thực tiễn không thể chỉ dừng ở định hướng, mà phải có cơ chế bảo đảm thực thi. Nhận diện rõ điều này, Nghị quyết 79-NQ/TW đã giao nhiệm vụ cụ thể: Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội tăng cường giám sát việc thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát huy giám sát, phản biện xã hội; Tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách.

“Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quản trị hiện đại, bởi kinh tế nhà nước nắm giữ nguồn lực rất lớn của quốc gia. Việc kiểm soát không thể chỉ dựa vào cơ chế nội bộ, mà cần đặt dưới nhiều tầng giám sát, giám sát của cơ quan dân cử, giám sát của kiểm toán – thanh tra và giám sát của xã hội”, PGS, TS Ngô Trí Long nhận định.
Từ góc độ thể chế, PGS, TS Ngô Trí Long cho rằng, để Nghị quyết 79-NQ/TW tạo chuyển biến thực chất, cần tập trung ba trọng tâm bao gồm hoàn thiện pháp luật về quản trị tài sản công theo hướng thống nhất, tách bạch và gắn trách nhiệm đến cùng; chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hóa bằng số liệu và kết quả kiểm chứng được; đồng thời siết chặt kỷ luật trách nhiệm cá nhân, đặc biệt với người đứng đầu, gắn quyền quyết định với trách nhiệm giải trình và cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích.
Đồng quan điểm, PGS, TS Vũ Hùng Cường, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, để Nghị quyết 79-NQ/TW sớm đi vào cuộc sống, quá trình tổ chức thực hiện cần tập trung tháo gỡ các rào cản từ nhận thức đến thể chế.
Trước hết là việc chưa hiểu đầy đủ nội hàm “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác. Cùng với đó là những chồng chéo trong hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành, cũng như bất cập trong phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương.
Theo ông, khi có sự thống nhất cao trong toàn bộ hệ thống chính trị về vai trò của kinh tế nhà nước, sẽ hình thành cách tiếp cận nhất quán trong xây dựng và thực thi pháp luật, tránh tình trạng chính sách bị “méo” trong quá trình triển khai.
Trên cơ sở đó, cần bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển quan trọng như đất đai, vốn và đầu tư công; đồng thời kiên trì thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần. Đây là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và tạo thêm dư địa phát triển cho các khu vực kinh tế khác.