Vụ thịt heo chứa chất cấm: Ai chịu trách nhiệm?
Vụ hơn 10.000 tấn thịt heo sử dụng chất cấm tạo nạc được đưa ra thị trường gây hoang mang dư luận, đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về trách nhiệm kiểm soát ở từng mắt xích trong chuỗi cung ứng thực phẩm…
Vụ án liên quan đường dây nuôi, vận chuyển và tiêu thụ heo sử dụng chất cấm salbutamol vừa được Công an TP.HCM triệt phá không chỉ gây lo ngại bởi quy mô. Những thông tin ban đầu còn cho thấy, để số heo này đi từ nơi chăn nuôi tới thị trường, hàng hóa đã trải qua nhiều khâu, trong đó có cả hoạt động kiểm dịch.

Theo kết quả điều tra được công bố, từ tháng 1/2026, các đối tượng đã đưa hơn 10.000 tấn heo có sử dụng chất tạo nạc ra thị trường, trị giá ước tính trên 600 tỷ đồng, tiêu thụ tại TP.HCM, Đồng Tháp và một số tỉnh, thành phía Nam.
Vụ việc được phát hiện khi lực lượng chức năng kiểm tra các xe vận chuyển 280 con heo thịt dương tính với salbutamol. Trong số này, 80 con còn dương tính với virus dịch tả heo châu Phi.
Mở rộng điều tra tại 14 địa điểm là trang trại và nơi ở của những người liên quan ở Đồng Nai, cơ quan công an phát hiện 3.909 con heo, tổng trọng lượng hơn 500 tấn, dương tính với salbutamol tại các cơ sở thu gom, chăn nuôi. Số heo này sau đó được xử lý, tiêu hủy.
Đến nay, 9 bị can đã bị khởi tố, bắt tạm giam về các tội danh “Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm”, “Buôn bán hàng cấm”, “Đưa hối lộ” và “Nhận hối lộ”.
Đáng chú ý, vụ án còn cho thấy dấu hiệu vi phạm ngay tại khâu kiểm dịch. Một kiểm dịch viên động vật tại Đồng Nai bị khởi tố về tội “Nhận hối lộ”, liên quan việc ký xác nhận kiểm dịch sai quy trình, không kiểm tra thực tế, cấp sẵn giấy chứng nhận cùng niêm chì để chủ hàng tự niêm phong. Cơ quan điều tra cũng xác định các đối tượng sử dụng giấy thông tin nguồn gốc động vật giả để vận chuyển heo từ Đồng Nai đến giết mổ tại TP.HCM.
Nhận định về vụ việc này, các chuyên gia pháp lý cho rằng, vụ án không còn dừng ở hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Trước khi thực phẩm tới tay người tiêu dùng, sản phẩm phải đi qua các khâu thu mua, vận chuyển, kiểm dịch, giết mổ và phân phối. Việc một lượng lớn heo sử dụng chất cấm được đưa ra thị trường đặt ra câu hỏi về khả năng kiểm soát cũng như trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi.
Theo Luật sư Tạ Anh Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH Tạ Anh Tuấn, vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm không phải trách nhiệm của riêng người trực tiếp chăn nuôi hay cơ quan kiểm dịch. Tùy vị trí và hoạt động tham gia trong chuỗi, mỗi tổ chức, cá nhân có những nghĩa vụ pháp lý tương ứng. Khi xảy ra vi phạm, trách nhiệm phải được xem xét trên cơ sở nghĩa vụ, hành vi, lỗi và hậu quả cụ thể.
“Không thể coi kiểm soát an toàn thực phẩm chỉ là câu chuyện ở đầu vào hoặc chờ đến khi sản phẩm ra thị trường mới kiểm tra. Nếu một mắt xích không thực hiện đúng trách nhiệm hoặc cố tình bỏ qua quy định, rủi ro có thể tiếp tục đi qua những khâu phía sau và cuối cùng ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng”, Luật sư Tuấn phân tích.

Theo Luật sư Tuấn, đối với các cơ sở thu mua, giết mổ, phân phối và kinh doanh thực phẩm, kiểm soát nguồn gốc hàng hóa là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Truy xuất nguồn gốc vì thế không thể chỉ dừng ở việc có đủ giấy tờ để hàng hóa được lưu thông, mà phải cho phép xác định được nguồn hàng và chủ thể chịu trách nhiệm ở từng công đoạn.
Vụ án lần này cũng cho thấy, nếu quy trình kiểm soát bị vô hiệu hóa, giấy tờ có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa quá trình lưu thông hàng hóa. Một giấy chứng nhận khó phát huy giá trị quản lý nếu thông tin trên đó không phản ánh đúng nguồn hàng thực tế.
“Việc truy xuất nguồn gốc phải trả lời được sản phẩm đến từ đâu, đi qua những khâu nào và ai chịu trách nhiệm ở từng công đoạn. Khi xảy ra vi phạm, cơ quan chức năng phải có khả năng lần ngược chuỗi cung ứng để xác định đúng trách nhiệm, thay vì chỉ dừng lại ở mắt xích cuối cùng”, Luật sư Tuấn nêu quan điểm.
Muốn làm được điều đó, theo Luật sư Tuấn, cần tăng khả năng kết nối dữ liệu giữa chăn nuôi, kiểm dịch, vận chuyển, giết mổ và phân phối. Khi thông tin ở từng công đoạn được ghi nhận, liên thông và có thể đối chiếu, cơ quan quản lý sẽ có thêm công cụ phát hiện những bất thường về nguồn gốc, hồ sơ cũng như quá trình lưu thông hàng hóa.
Hoạt động kiểm soát cũng cần dựa nhiều hơn vào mức độ rủi ro. Những nguồn hàng có dấu hiệu bất thường về xuất xứ, hồ sơ, quá trình vận chuyển hoặc kiểm dịch cần được nhận diện sớm để kiểm tra trước khi đưa vào giết mổ, phân phối, thay vì đợi sản phẩm đã ra thị trường mới xử lý.
Ở phía doanh nghiệp, kiểm soát nhà cung cấp cần được xem là một phần của quản trị rủi ro. Khi thực phẩm không bảo đảm an toàn lọt vào hệ thống phân phối, hậu quả không chỉ dừng ở thiệt hại đối với người tiêu dùng mà còn có thể kéo theo trách nhiệm pháp lý, tổn thất tài chính và uy tín của chính doanh nghiệp.
Luật sư Tuấn cho rằng, càng không thể đẩy trách nhiệm kiểm soát về phía người mua. Với những chất cấm như salbutamol, người tiêu dùng khó có khả năng xác định bằng quan sát thông thường sản phẩm có bảo đảm an toàn hay không.
“Người tiêu dùng không thể đứng ở quầy thịt để làm thay công việc kiểm nghiệm, kiểm dịch hay truy xuất nguồn gốc. Trách nhiệm phải được đặt đúng vào những chủ thể có khả năng kiểm soát rủi ro ở từng công đoạn. Khi mỗi mắt xích đều thực hiện đúng nghĩa vụ và hàng hóa có thể được truy xuất đến tận nguồn, thực phẩm không an toàn mới khó có đường đi tới thị trường”, Luật sư Tuấn nhấn mạnh.
Nguyễn Giang