Cần đồng bộ hạ tầng trước khi cắt giảm “tiền kiểm”
Được cho là bước đi cần thiết để cởi trói cho doanh nghiệp, tuy nhiên, theo đại biểu Tô Huy Vũ, nếu năng lực hậu kiểm còn yếu và hạ tầng kỹ thuật chưa sẵn sàng, việc bãi bỏ ồ ạt các chốt chặn tiền kiểm có thể để lại nhiều hệ lụy cho môi trường.
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, tại phiên họp ngày 24/10, các đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận Tổ về: Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Phát biểu thảo luận Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Tô Huy Vũ, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đánh giá cao chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, phân quyền cho địa phương và luật hóa các quy định hiện hành.
Theo đại biểu, thực tế triển khai Nghị quyết 17/2026/NQ-CP và Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ thời gian qua đã giúp cắt giảm gần 52% thời gian giải quyết thủ tục và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
“Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, việc sửa đổi lần này là cần thiết để luật hóa và duy trì về tổ chức tiếp cận. Doanh nghiệp cần một hành lang pháp lý thông thoáng để phát triển, người dân cần một môi trường sống an toàn. Hai mục tiêu này không phải là đánh đổi”, đại biểu chia sẻ.
Đại biểu cho rằng, việc cắt giảm 90% tiền kiểm chỉ an toàn khi hậu kiểm đủ lực, trong khi hiện nay hậu kiểm còn rất nhiều vấn đề.
Để dự luật vừa cởi trói cho nhà đầu tư, vừa giữ được chốt chặn an toàn môi trường với sức khỏe của người dân, đại biểu đề nghị cần bỏ cách định nghĩa vòng vo khi xác định dự án phải đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Điều 30.

Theo đại biểu, mặc dù dự thảo hướng tới cắt giảm trên 90% đối tượng phải làm ĐTM, nhưng cách thiết kế điều khoản loại trừ lại vô tình tạo ra ma trận pháp lý khiến doanh nghiệp lúng túng.
Cụ thể, dự thảo quy định dự án có nguy cơ gây ô nhiễm nhưng không thuộc diện cấp giấy phép môi trường thì phải làm ĐTM. Trong khi đó, nghị định hướng dẫn lại định nghĩa ngược lại, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải tra cứu cùng lúc 4 điều luật và 14 mục nghị định chỉ để biết mình có thuộc diện phải làm ĐTM hay không.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng cho rằng, ĐTM vốn là công cụ phòng ngừa trước khi đầu tư, còn giấy phép môi trường là công cụ kiểm soát khi đã đi vào vận hành. Việc lấy diện cấp phép làm căn cứ loại trừ để xác định diện làm ĐTM là không hợp lý.
Do đó, luật cần quy định trực diện các tiêu chí khung như loại hình, quy mô, công suất xả thải và độ nhạy cảm của môi trường tiếp nhận thay vì phó mặc toàn bộ cho nghị định.
Cùng với vấn đề đã nêu, theo đại biểu, việc cộng dồn ba lớp cắt giảm tiền kiểm đang tạo ra một lỗ hổng an toàn môi trường tại các cụm công nghiệp và lưu vực sông.
Cụ thể, về việc miễn ĐTM cho dự án thứ cấp tại các cụm công nghiệp, đại biểu cho rằng, đây là quy định này hợp lý với các khu công nghiệp tập trung (nơi trên 95% đã có trạm xử lý nước thải), nhưng lại rất rủi ro với các cụm công nghiệp (hiện có tới gần 2/3 số cụm công nghiệp trên cả nước chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung).
Về cho phép cấp phép xả thải khi chưa công bố sức chịu tải của sông, theo đại biểu, tỷ lệ các lưu vực sông được đánh giá sức chịu tải hiện nay còn rất thấp. Quy định cấm xả thải vào nguồn nước quá tải sẽ vô hiệu hóa tại những nơi chưa từng được đo đạc, đánh giá.
Về bãi bỏ quy định vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải (Điều 46), điều này đồng nghĩa với việc lần đầu tiên nhà máy vận hành cũng chính là lần xả thải thực tế thẳng ra môi trường.
“Khi ghép ba quy định này lại, một nhà máy nằm trong cụm công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải vẫn được miễn ĐTM, vẫn được cấp phép xả thẳng vào dòng sông chưa biết sức chịu tải, và không cần chạy thử nghiệm hệ thống xử lý, nguy cơ rủi ro sinh thái rất lớn”, đại biểu nhấn mạnh .
Cùng với lỗ hổng quy định, theo đại biểu, năng lực hậu kiểm tại các địa phương cũng đang bộc lộ nhiều điểm yếu nghiêm trọng khi tỷ lệ vi phạm ở mức báo động khi báo cáo giai đoạn 2022–2025 cho thấy, dù chỉ kiểm tra được hơn 1.000 cơ sở, tỷ lệ phát hiện vi phạm lên tới 42% (tăng từ mức 34% của giai đoạn trước).
Trong khi đó, bộ máy thanh tra bị thu hẹp, bởi theo Nghị định 35/2026/NĐ-CP, Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Môi trường không còn duy trì trong cơ cấu tổ chức, khiến bộ máy hậu kiểm Trung ương bị thu hẹp đúng vào thời điểm tiền kiểm giảm mạnh.
Còn hậu kiểm địa phương gần như tê liệt, đơn cử tại Hà Nội, mỗi năm cơ quan chức năng chỉ kiểm tra được khoảng 3% số cơ sở tại các cụm công nghiệp. Trong khi qua kiểm tra xác suất 5 hồ sơ thì có tới 3 cơ sở vi phạm môi trường, nhưng không vụ nào được chuyển xử lý đúng thẩm quyền.
“Chưa kể, nguy cơ làm sai lệch số liệu giám sát khi dự thảo chuyển dịch vụ quan trắc môi trường từ cơ chế “cấp phép đủ điều kiện” sang hình thức “doanh nghiệp tự công bố”, trong bối cảnh các cơ quan công an và thanh tra thời gian qua đã phát hiện hàng loạt sai phạm tại các tổ chức quan trắc độc lập”, đại biểu cảnh báo.
Ngoài vấn đề đã nêu, đóng góp vào các nội dung cụ thể khác của dự thảo luật, như liên quan đến quy định về vùng phát thải thấp và cơ chế thử nghiệm, đại biểu cho rằng, việc hạn chế phương tiện giao thông tại vùng phát thải thấp (Điều 3, Điều 65) ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân đô thị, do đó thẩm quyền quyết định phải thuộc về HĐND cấp tỉnh; không nên giao trắng các điều kiện này cho văn bản dưới luật.
Về lộ trình tái chế (EPR) và phân loại rác, đại biểu đề nghị, cần luật hóa nguyên tắc lộ trình tái chế bắt buộc phải gắn liền với năng lực sẵn sàng của hạ tầng tái chế trong nước. Không thể phạt người dân phân loại rác khi đơn vị thu gom vẫn đến gom chung vào một xe; đồng thời cần quy định rõ chế tài cấm đơn vị thu gom trộn lẫn rác đã phân loại.
Về thị trường tín chỉ các-bon, theo đại biểu, cần sớm tháo gỡ nút thắt về tiêu chuẩn công nhận đơn vị thẩm định độc lập phục vụ kiểm kê khí nhà kính trước năm 2027. Đặc biệt, Quốc hội cần sửa đổi Điều 139 theo hướng xác định hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon là quyền tài sản (theo Bộ luật Dân sự) để làm cơ sở cho các hoạt động thế chấp, huy động vốn và khơi thông dòng tín dụng xanh từ ngân hàng.
Bài: Gia Nguyễn - Ảnh: Quang Vinh