Cân nhắc hoàn thiện cơ chế, bảo đảm quyền tham gia thị trường các-bon
Đánh giá cao nội dung được đề xuất, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, góp ý sửa Luật Bảo vệ môi trường, một số ý kiến đề nghị, cân nhắc hoàn thiện cơ chế phân chia lợi ích, bảo đảm quyền tham gia thị trường các-bon của người dân và cộng đồng.
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai được xây dựng với bố cục gồm 3 điều, sửa đổi, bổ sung 78/171 điều của luật hiện hành, trong đó bổ sung mới 2 điều là Điều 72a và Điều 139a.
Trọng tâm của dự thảo tập trung cải cách các quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá sơ bộ tác động môi trường, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường và đăng ký môi trường theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả quản lý.

Đặc biệt, dự thảo hướng tới hoàn thiện khung pháp lý về thị trường các-bon bằng việc bổ sung quy định về phân bổ hạn ngạch phát thải, giao dịch tín chỉ các-bon, sàn giao dịch các-bon và trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon. Đồng thời, các quy định về quản lý phát thải khí nhà kính được hoàn thiện theo hướng bao quát hoạt động kiểm kê, giảm phát thải và vận hành thị trường các-bon.
Đánh giá cao nội dung được đề xuất, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, góp ý sửa Luật Bảo vệ môi trường, một số ý kiến đề nghị, cân nhắc hoàn thiện cơ chế phân chia lợi ích, bảo đảm quyền tham gia thị trường các-bon của người dân và cộng đồng.
Quan tâm đến nội dung sửa đổi Điều 139 và bổ sung Điều 139a liên quan đến thị trường các-bon, tham gia góp ý, đại biểu Sùng A Lềnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai đề nghị làm rõ chủ thể được hưởng lợi, nguyên tắc phân chia lợi ích và cơ chế hỗ trợ người dân tham gia thị trường các-bon, nhất là các hộ gia đình, cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ rừng.
“Các quy định này cần được xác lập ngay trong luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, nhất là tại các tỉnh miền núi, biên giới có diện tích rừng lớn”, đại biểu nêu rõ.

Cụ thể, đại biểu đề nghị, làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp. Theo đó, cần quy định nguyên tắc phân chia lợi ích công bằng, căn cứ vào mức độ đóng góp và trách nhiệm của từng bên; đồng thời, giao Chính phủ hướng dẫn phương thức xác định, chi trả và giải quyết tranh chấp…
Cùng với đó, đại biểu cũng đề nghị, cần có cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, chi phí và liên kết các chủ thể quy mô nhỏ, tạo điều kiện để hộ gia đình, cộng đồng tham gia thị trường các-bon. Việc thực hiện cần gắn với phương pháp đo đạc thống nhất, thẩm định độc lập và hệ thống dữ liệu có thể kiểm chứng.
“Việc phân chia phải công khai, minh bạch về doanh thu, chi phí và số tiền thực nhận. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, chi phí và liên kết các chủ thể quy mô nhỏ để tạo điều kiện cho hộ gia đình, cộng đồng tham gia thị trường, gắn với phương pháp đo đạc thống nhất, thẩm định độc lập và dữ liệu có thể kiểm chứng”, đại biểu lưu ý.
Liên quan đến Điều 139a, đại biểu đề nghị xác định rõ cơ quan có thẩm quyền xác nhận, chấp thuận chuyển giao và trách nhiệm cập nhật, theo dõi trên hệ thống đăng ký quốc gia. Qua đó, bảo đảm kết quả giảm phát thải được kiểm chứng, có khả năng truy xuất nguồn gốc và không bị tính trùng khi thực hiện các nghĩa vụ giảm phát thải.
Riêng đối với hoạt động chuyển giao kết quả giảm phát thải ra nước ngoài, đại biểu nhấn mạnh cần quy định rõ điều kiện chấp thuận, đồng thời đánh giá tác động của việc chuyển giao đối với quá trình thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Cũng quan tâm đến nội dung này, tham gia góp ý, đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long bày tỏ đồng tình với ý kiến của đại biểu Sùng A Lềnh, đồng thời đánh giá cao việc dự thảo bổ sung Điều 139a, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, bảo đảm tính minh bạch, tránh tính trùng và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
Đại biểu đề nghị, bổ sung vào Điều 139a quy định theo hướng việc chuyển giao quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon có điều chỉnh tương ứng phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận trước khi thực hiện. Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, điều kiện chấp thuận, điều chỉnh, đình chỉ hoặc thu hồi việc chấp thuận chuyển giao quốc tế.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng lưu ý việc xác định quyền sở hữu đối với tín chỉ các-bon trong trường hợp tín chỉ phát sinh từ các dự án sử dụng rừng tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân, đất do Nhà nước giao, ngân sách nhà nước, vốn ODA, hạ tầng công hoặc hoạt động bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư.
Theo đại biểu, trong những trường hợp này, không thể mặc nhiên xác định toàn bộ tín chỉ các-bon thuộc về chủ dự án.
Từ đó, đại biểu đề xuất bổ sung quy định: Quyền đối với kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon được xác định trên cơ sở nguồn lực đầu tư, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản, tài nguyên tạo ra kết quả giảm phát thải và thỏa thuận hợp pháp giữa các bên. Trường hợp kết quả giảm phát thải được hình thành từ tài sản công, tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực của cộng đồng thì việc xác lập, phân chia lợi ích thực hiện theo quy định của pháp luật.
“Việc bổ sung quy định này là cần thiết, góp phần xác định rõ quyền và lợi ích của các bên, tránh phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện các dự án và giao dịch tín chỉ các-bon”, đại biểu khẳng định.
Bài: Gia Nguyễn - Ảnh: Quốc Tuấn