Khi các phương thức giao thương phi truyền thống bùng nổ, việc sửa Luật Hải quan được cho là giải pháp cần thiết để đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Để đảm bảo tính hợp lý, khả thi của quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, sáng 11/6, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cục Hải quan tổ chức Hội thảo: “Lấy ý kiến Doanh nghiệp về Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết, nhìn lại chặng đường hơn 10 năm thi hành Luật Hải quan 2014, cộng đồng doanh nghiệp có đủ cơ sở để ghi nhận những bước tiến rất đáng trân trọng của ngành Hải quan.
“Từ chỗ tự khai giấy, xếp hàng chờ đợi, đến nay gần như toàn bộ quy trình thủ tục cơ bản đã được tự động hóa. Thời gian thông quan luồng xanh hiện nay chỉ còn tính bằng giây. Tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa đã giảm từ gần 10% xuống còn khoảng 2,65% trong năm vừa qua, trong khi số lượng tờ khai tăng gấp nhiều lần.
Cơ chế một cửa quốc gia, hệ thống thông quan tự động, giám sát bằng seal định vị điện tử, nộp thuế 24/7... tất cả những điều đó đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống xuất nhập khẩu hàng ngày của doanh nghiệp”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Đồng thời cho hay, trong nhiều cuộc khảo sát của VCCI, ngành Hải quan luôn được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là một trong những lĩnh vực tiên phong, đi đầu về cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số. Đây là điều không phải ngành nào cũng làm được. Chính trên nền tảng tích cực ấy, Dự thảo sửa đổi Luật Hải quan lần này được cộng đồng doanh nghiệp đón nhận với nhiều kỳ vọng.
Đánh giá cao tinh thần của Dự thảo, đặc biệt là việc thể chế hóa các nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết 66-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW, với thông điệp rất rõ ràng: “Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm”. Ông Tuấn gợi mở một số nhóm vấn đề hội thảo cần tập trung thảo luận, bao gồm: Hải quan số và hồ sơ dưới dạng dữ liệu; Quản lý hải quan đối với hàng hóa qua thương mại điện tử; Quản lý tuân thủ; Đại lý làm thủ tục hải quan; Sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa quá cảnh; Kiểm tra sau thông quan và phân cấp, phân quyền.
Theo ông Tuấn, mục tiêu của Đảng và Nhà nước, như Nghị quyết 68-NQ/CP và chương trình gần đây của Chính phủ là phải cắt giảm ít nhất 30% thời gian, 30% chi phí tuân thủ và 30% các điều kiện kinh doanh. Đây là thước đo rất cụ thể.
“Tôi mong rằng, các ý kiến tâm huyết của quý vị sẽ giúp cho Dự thảo Luật này thực hiện hóa được mục tiêu đấy. Cộng đồng doanh nghiệp luôn đồng hành với ngành Hải quan trên hành trình cải cách”, ông Tuấn bày tỏ.

Chia sẻ tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Thành Hưng cũng bày tỏ, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được thông qua ngày 23/6/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã thực hiện được 12 năm. Đến nay, thực tiễn đòi hỏi phải nghiên cứu sửa đổi một số nội dung để đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Theo ông Hưng, Dự thảo Luật lần này dự kiến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 Điều và bổ sung thêm 4 Điều mới. Đây là hành động pháp lý mạnh mẽ nhằm cụ thể hóa và thể chế hóa các Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW về chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW về thúc đẩy kinh tế tư nhân.
“Thực tế 12 năm qua cho thấy, hành lang pháp lý cũ được thiết lập trên tư duy kiểm soát tại biên giới, vốn chú trọng vào việc bao quát hành chính bằng hồ sơ giấy tờ hơn là đồng hành cùng tốc độ dòng chảy thương mại. Khi các phương thức giao thương phi truyền thống bùng nổ, tư duy kiểm soát thủ công cũ đã tạo ra những điểm nghẽn ngầm về chi phí thời gian và chi phí cơ hội cho nền kinh tế.
Tinh thần cốt lõi mang tính định hướng của Dự thảo là dịch chuyển trọn vẹn sang tư duy phục vụ, tháo gỡ triệt để các rào cản hành chính nhằm tối ưu hóa chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro hệ thống”, ông Hưng nhấn mạnh.
Đồng thời chỉ rõ, việc hiện thực hóa triệt để chủ trương phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước là xu thế quản trị tất yếu trong kỷ nguyên mới. Việc rà soát kiến trúc pháp lý lần này cắt bỏ tư duy ôm đồm, thể hiện rất rõ tinh thần tinh gọn bộ máy theo hướng nâng cao hiệu lực hiệu quả tại Nghị quyết 18-NQ/TW.


Cũng theo ông Hưng, Ban soạn thảo kiên quyết bãi bỏ quy định Chính phủ quy định cụ thể tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của Hải quan các cấp tại khoản 2 Điều 14 hiện hành để chuyển giao toàn bộ thẩm quyền này cho Bộ Tài chính chủ động điều hành để phù hợp với thực tiễn từng giai đoạn.
Cơ chế này nâng cao tính chủ động thực thi của cơ quan chuyên trách, giảm bớt tối đa các khâu trung gian, cắt giảm triệt để các thủ tục xin - cho mang tính hành chính, từ đó đẩy nhanh tốc độ phản ứng chính sách trước những biến động nhanh chóng và khó lường của thị trường tài chính, thương mại thế giới.
Tại Hội thảo, đại diện Cục Hải quan, ông Kim Long Biên, Trưởng ban Ban Pháp chế đã chia sẻ về những vấn đề mang tính cốt lõi của Dự thảo Luật (sửa đổi). Những sửa đổi, bổ sung này dự kiến sẽ tác động trực tiếp tới doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.
Hội thảo cũng lắng nghe các ý kiến góp ý từ phía cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia về những vấn đề còn băn khoăn, vướng mắc liên quan đến các đề xuất sửa đổi, bổ sung của cơ quan soạn thảo.
Kết luận Hội thảo, Cục Hải quan cam kết cơ quan soạn thảo sẽ nghiên cứu, tiếp thu tối đa các đóng góp hợp lý từ các hiệp hội ngành hàng để các quy định pháp lý ngày càng minh bạch, chi tiết và có tính định lượng hơn.
Theo cơ quan này, mục tiêu tối thượng của đợt sửa đổi này là giúp người khai hải quan thực hiện thủ tục hải quan được đầy đủ, nhanh chóng và thuận tiện, phù hợp trọn vẹn với các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết, hướng tới việc cải cách thủ tục hải quan, thúc đẩy mạnh mẽ sự tuân thủ tự nguyện trên cơ sở phân loại mức độ tuân thủ pháp luật và mức độ rủi ro hệ thống của người khai hải quan, biến nghĩa vụ hải quan thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.