Cùng với quy định liên quan phạm vi áp dụng đối với hàng quá cảnh, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được cho vẫn còn đó một số băn khoăn.
Như đã thông tin, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tái cấu trúc hệ thống công nghệ thông tin ngành Hải quan theo hướng đồng bộ, hiện đại, tích hợp và kết nối liên thông với các bộ ngành, địa phương. Đồng thời, hướng tới tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hải quan, thúc đẩy tuân thủ tự nguyện trên cơ sở quản lý rủi ro và phân loại mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, người khai hải quan.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, Dự thảo Luật (sửa đổi) đang đưa ra lấy ý kiến cũng được cho vẫn còn những tồn tại, cần tiếp tục được cân nhắc. Theo đó, cùng với quy định liên quan phạm vi áp dụng đối với hàng quá cảnh, các chuyên gia cũng bày tỏ băn khoăn với một số nội dung được đề xuất.

Tham gia góp ý tại Hội thảo do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cục Hải quan tổ chức mới đây, ông Nguyễn Minh Đức, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) cho biết, liên quan đến Điều 19.5 trong Dự thảo Luật cho phép công chức Hải quan được phép yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm các thông tin để làm xác định mã HS cũng như là xuất xứ hàng hóa, trị giá hải quan.
Tuy nhiên, trên thực tế, khá nhiều phản hồi của các doanh nghiệp về việc công chức Hải quan lạm dụng điều này để yêu cầu cung cấp những thông tin mà thực tế không làm thay đổi mã HS, không làm thay đổi trị giá hay xuất xứ. Trong khi không cung cấp thì không được thông quan, mà cung cấp thì những thông tin doanh nghiệp rất khó kiếm được, cùng với đó là những thông tin mang tính bí mật kinh doanh.
“Chúng tôi đề nghị, ngoài Điều 19.5 chúng ta bổ sung thêm một điều về các hành vi cấm, trong đó cấm công chức Hải quan yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm các thông tin tài liệu không nhằm phục vụ mục đích quản lý hải quan theo quy định của pháp luật. Để doanh nghiệp có thêm một điều khoản để tranh luận với công chức khi bị yêu cầu những thông tin vô lý”, ông Đức góp ý.

Cùng với nội dung đã nêu, dẫn thực tế liên quan quy định hiện tại về việc mở tờ khai hải quan trên hệ thống để upload các thông tin khi doanh nghiệp trong nước nhập khẩu hàng hóa của đối tác nước ngoài, ông Đức cho rằng, nên cho phép một số trường hợp mở tài khoản (sub-account) trên hệ thống điện tử của ngành hải quan để các bên liên quan có thể trực tiếp đẩy thông tin lên.
Theo ông Đức, đây chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật, nhưng sẽ giúp tháo gỡ khá nhiều trường hợp.
Còn theo TS Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính, Bản Dự thảo lần này bám sát các định hướng của Đảng về cải cách, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và các Nghị quyết của Chính phủ (như Nghị quyết số 02/NQ-CP).
Trong đó, Dự thảo có hai điểm đổi mới lớn, bao gồm: Việc hợp pháp hóa việc cắt giảm các thủ tục hành chính; và việc sử dụng chứng từ điện tử.
Góp ý xây dựng và hoàn thiện Dự thảo Luật (sửa đổi), vị chuyên gia này cho rằng, về quản lý tuân thủ, Dự thảo dựa trên cơ sở đã có chương trình quản lý tuân thủ đã được thực hiện một thời gian trước đây. Tuy nhiên, quy định này chưa rõ ràng, đôi khi còn chồng chéo với quản lý rủi ro. Doanh nghiệp cần biết rõ tiêu chí tuân thủ như thế nào là tốt, được hưởng lợi gì, có khác gì với quản lý rủi ro hiện nay không.
Về doanh nghiệp ưu tiên, theo bà Thảo, hiện số lượng doanh nghiệp ưu tiên có tăng nhưng tăng rất ít. Nên chăng, mở rộng phạm vi này để khuyến khích sự tuân thủ tốt hơn, tạo động lực cho doanh nghiệp.
Về thông quan tập trung, mô hình kiểm tra chuyên ngành tập trung trước đây cũng thí điểm nhưng chưa thành công lắm.
“Vậy nên chăng, chúng ta cần định nghĩa lại mô hình thông quan tập trung này, xem xét tính hiệu quả khi ứng dụng công nghệ thông tin. Cần có đánh giá tác động chi tiết hơn để thuyết phục doanh nghiệp”, vị chuyên gia này bày tỏ.
Đồng thời cho hay, về cơ chế một cửa Quốc gia, dù không phải mới nhưng dường như tiến triển hơi chậm so với yêu cầu.
Theo bà Thảo, với Dự thảo mới này, chúng ta kỳ vọng việc “không giấy tờ” sẽ được thực hiện triệt để, tuy nhiên, nếu đưa ra quy định mà thực tế không vận hành được thì cần phải có giải pháp xử lý.
Cùng với các nội dung đã nêu, về thuật ngữ “thông điệp dữ liệu”, bà Thảo cho rằng, Ban soạn thảo có nhắc đến chứng từ điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu. Tuy nhiên, trong Luật Giao dịch điện tử không có, vì vậy, để đảm bảo tính thống nhất của văn bản pháp luật, cần phải chuẩn hóa lại thuật ngữ cho phù hợp.
Ngoài ra, về việc kiểm soát hàng hóa đối với thương mại điện tử, vị chuyên gia này cũng cho rằng, việc kiểm soát là phù hợp để đảm bảo tính công bằng, tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu cách thức quản lý cho phù hợp và việc giao trách nhiệm cho sàn thương mại điện tử làm đầu mối khai báo hải quan có khả thi?
“Đề nghị Ban soạn thảo trình bày rõ hơn kinh nghiệm quốc tế các nước đang quản lý ra sao để đại biểu nắm bắt thông tin và lựa chọn đề xuất phù hợp. Nếu áp một gánh nặng quá lớn cho sàn, sàn sẽ không thực hiện được”, vị chuyên gia này bày tỏ.