Doanh nghiệp

THỊ TRƯỜNG CÁC-BON: Lộ trình tối ưu cho ngành xi măng

Bài: Thy Hằng - Ảnh: Ngọc Hùng 17/04/2026 10:53

Phát thải vượt hạn ngạch, ngành xi măng đối mặt sức ép chuyển đổi xanh trong giai đoạn mới. Lộ trình phải ưu tiên giải pháp gần, bắt đầu từ bộ dữ liệu đầu vào và áp dụng công nghệ.

Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chủ trì tổ chức với sự đồng hành và hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác quốc tế, Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) và Chương trình Aus4Growth. Đơn vị thực hiện chương trình gồm Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp; Viện Công nghệ và Đổi mới sáng tạo doanh nghiệp - VCCI.

ongduclong3.jpg
PGS TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA)

Tại Diễn đàn, chia sẻ về thực trạng ngành hiện nay, PGS TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) cho biết, xi măng là vật liệu nền của phát triển hạ tầng, do đó giảm phát thải phải đi cùng bảo đảm an ninh vật liệu xây dựng.

Từ năm 2025 - 2026, ngành xi măng bước vào giai đoạn thí điểm hạn ngạch phát thải, cùng với đó là yêu cầu về MRV, hiệu suất và lộ trình giảm phát thải trở thành áp lực trực tiếp.

“Xi măng là 1 trong 3 ngành vừa được giao thí điểm hạn ngạch các – bon. Trong đó 51/61 doanh nghiệp xi măng trong nước cần kiểm kê phát thải năm 2025- 2026. Hạn ngạch của ngành xi măng tương đương khoảng 28,8% tổng hạn ngạch năm 2025 và 28,1% năm 2026”, ông Long cho biết.

Thực tế, năm 2025, sản lượng xi măng đạt 96,36 Mt. Hạn ngạch phát thải của ngành xi măng năm 2025 là 69,94 MtCO₂tđ, trong khi đó, thực tế phát thải ước tính khoảng 84,0 MtCO₂.

Do đó, vị chuyên gia nhận định, ba đòn bẩy gần hạn là giảm clinker factor, nâng hiệu suất nhiệt–điện và tăng nhiên liệu thay thế, CCS/CCU là giải pháp dài hạn cho phần phát thải khó tránh.

Ông Long nhấn mạnh, xi măng là vật liệu nền tảng của phát triển hạ tầng, vì xi măng đi vào nhà ở, giao thông và logistics, thủy lợi, năng lượng và quốc phòng, công nghiệp & đô thị. Do đó, lộ trình Net Zero của ngành phải gắn với an ninh vật liệu xây dựng và năng lực cung ứng trong nước.

Trên thực tế, Việt Nam là nước sản xuất xi măng thứ 3 thế giới. Thống kê từ Bộ Xây dựng, năm 2025 sản lượng xi măng và clinker cả nước ước đạt khoảng 104 triệu tấn, tổng tiêu thụ khoảng 112 triệu tấn.

onglinhanh.jpg
Đại biểu tham dự Diễn đàn

Đáng lưu ý, trong sản xuất xi măng, ba nguồn phát thải trọng yếu gồm:

Một là, nguyên liệu/phản ứng phân hủy đá vôi ≈ 525 kg CO₂/tấn clinker theo IPCC.

Hai, phát thải từ nhiên liệu nung clinker. Phụ thuộc loại nhiên liệu, suất tiêu hao nhiệt và tỷ lệ nhiên liệu thay thế.

Ba, nguồn gián tiếp từ điện. Tỷ lệ phụ thuộc cường độ điện năng của dây chuyền và hệ số phát thải của lưới điện quốc gia.

Đơn cử, nếu dùng hệ số lưới điện 2023 do Cục Biến đổi khí hậu công bố (0,6592 tCO₂/MWh), ước tính lượng phát thải năm 2025 cho sản xuất xi măng và linker sẽ khoảng 84,02 MtCO₂/năm. Trong đó, 55% phát thải đến từ phản ứng phân hủy nguyên liệu – phần phát thải khó tránh nếu vẫn sản xuất clinker truyền thống; Khoảng 38% đến từ nhiên liệu; đây là nơi hiệu suất nhiệt và nhiên liệu thay thế có thể tạo khác biệt rõ trong ngắn hạn. Và điện chỉ chiếm khoảng 7%, nên tiết kiệm điện là cần thiết nhưng không đủ để đạt mức giảm sâu.

Từ thực tế này, ông Long nhận định, để đi xa hơn mức giảm cận biên, ngành phải song song giảm clinker factor và chuẩn bị công nghệ thu giữ carbon.

ongduclong2.jpg
Ông Long nhấn mạnh, xi măng là vật liệu nền tảng của phát triển hạ tầng

Trong khi đó, dư địa giảm phát thải trong sản xuất clinker là có giới hạn. Ngay cả khi tối ưu tiêu hao nhiệt, phát thải do phản ứng hóa học vẫn tạo ra “sàn phát thải” khoảng 525 kg CO₂/tấn clinker. Tối ưu vận hành chỉ giải quyết phần phát thải nhiên liệu và không thể thay thế vai trò của clinker substitution hoặc CCS/CCU. Do đó, nhiên liệu thay thế giảm phần phát thải nhiên liệu, nhưng không triệt tiêu calcination.

Từ thực tế này, Phó Chủ tịch VNCS nhận định, giảm clinker factor là đòn bẩy trong ngắn – trung hạn hiệu quả. Theo đó, giảm tỷ lệ clinker trong xi măng hỗn hợp cắt trực tiếp phát thải quy trình – thành phần lớn nhất của toàn chuỗi. Điều kiện để mở rộng là nguồn phụ gia khoáng ổn định, tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng và kiểm chứng độ bền lâu công trình. LC3, đá vôi, đất sét nung, xỉ hạt lò cao và pozzolan là các hướng cần đánh giá theo từng vùng nguyên liệu.

Về giải pháp giảm phát thải cho ngành xi măng, ông Long nhấn mạnh, trong ngắn hạn (2025–2030) cần tối ưu nhiệt – điện, tận dụng nhiệt thải, tăng nhiên liệu thay thế, số hóa vận hành và MRV.

Từ ngắn đến trung hạ, cần giảm clinker factor, mở rộng xi măng hỗn hợp, chuẩn hóa phụ gia khoáng và cơ chế kiểm định chất lượng.

Trong trung hạn, LC3, belite clinker, geopolymer và các chất kết dính mới trong các phân khúc ứng dụng phù hợp.

Về dài hạn, CCS/CCU cho phần phát thải khó tránh và tích hợp với thị trường carbon khi hạ tầng pháp lý đủ chín.

ongduclong5.jpg
Phó Chủ tịch VNCA nhấn mạnh, dư địa giảm phát thải trong sản xuất clinker là có giới hạn

Để thực hiện các giải pháp trên, PGS TS Lương Đức Long nhấn mạnh điều kiện nền cần có là chuẩn hóa dữ liệu, phát triển tiêu chuẩn – quy chuẩn, thiết kế cơ chế tài chính carbon và hỗ trợ đổi mới công nghệ.

Chia sẻ bài học từ lộ trình giảm phát thải của ngành xi măng Thái Lan, Phó Chủ tịch VNCA đề xuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nên phân kỳ theo độ sẵn sàng công nghệ và chi phí tuân thủ.

Cụ thể, giai đoạn đầu tập trung vào hiệu suất năng lượng, giảm clinker factor và tăng nhiên liệu thay thế. Giai đoạn giữa mở rộng các vật liệu xi măng carbon thấp và hạ tầng đo đạc – báo cáo – thẩm định. Giai đoạn sau mới dựa nhiều vào CCS/CCU để xử lý phần phát thải khó tránh còn lại.

Cách triển khai lộ trình nên theo 3 lớp, trọng tâm là quyết định đầu tư 5–10 năm tới, không chỉ đích 2050. Trong đó, đến 2030: tập trung “no-regret options” – hiệu suất, WHR, nhiên liệu thay thế, giảm clinker factor, chuẩn hóa MRV.

toancanh11 (1)

ongduclong.jpg
Diễn đàn do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp và Viện Công nghệ và Đổi mới sáng tạo doanh nghiệp - VCCI thực hiện ngày 17/4/2026

Từ năm 2030–2040: thúc đẩy xi măng carbon thấp, vật liệu kết dính mới ở phân khúc phù hợp và cơ chế định giá carbon. Sau 2040: CCS/CCU và các giải pháp khó tránh cần được kích hoạt khi công nghệ, hạ tầng và tài chính chín muồi.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, mọi lộ trình giảm phát thải phải bắt đầu từ bộ dữ liệu đầu vào đáng tin cậy và nhất quán. Cần ưu tiên giải pháp gần hạn, hiệu suất, giảm clinker factor và nhiên liệu thay thế là các hạng mục nên triển khai ngay. Cần chuẩn bị cho công nghệ sâu, CCS/CCU cần được nghiên cứu từ sớm vì đây là chìa khóa cho phần phát thải khó tránh. Đặc biệt, gắn Net Zero với chính sách công nghiệp, giảm phát thải phải song hành với an ninh vật liệu xây dựng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
THỊ TRƯỜNG CÁC-BON: Lộ trình tối ưu cho ngành xi măng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO