Phân tích - Bình luận

Trung Quốc sẽ đẩy mạnh thu hút lao động nhập cư?

Cẩm Anh • 27/10/2026 03:27

Trung Quốc có thể định hình lại dòng di cư lao động tại châu Á khi bắt đầu tiếp nhận lao động nhập cư.

7c944a57-738a-4631-ace8-b87f784195e8_be6354f8.webp
Tình trạng suy giảm dân số có thể buộc Trung Quốc phải cân nhắc tiếp nhận lao động nước ngoài với quy mô đáng kể.

Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc là một trong những nguồn cung lao động di cư lớn nhất thế giới. Người lao động nước này làm việc tại các nhà máy trong nước và tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng ở nước ngoài.

Tuy nhiên, tình trạng suy giảm dân số có thể buộc Trung Quốc phải cân nhắc tiếp nhận lao động nước ngoài với quy mô đáng kể.

Sự thay đổi này chưa thể diễn ra ngay lập tức. Trung Quốc vẫn có lực lượng lao động đông đảo và tỷ lệ thất nghiệp trong giới trẻ ở mức cao. Nước này đang đầu tư mạnh vào tự động hóa công nghiệp, kéo dài thời gian làm việc thông qua lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu và tìm cách điều chuyển lao động từ những khu vực dư thừa nhân lực đến những nơi doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng.

Tuy nhiên, xu hướng đang dần trở nên khó có thể bỏ qua. Dân số Trung Quốc đã giảm năm thứ tư liên tiếp vào năm 2025. Số người có việc làm giảm từ 740 triệu người năm 2023 xuống còn 725 triệu người.

Vấn đề không chỉ đơn thuần là Trung Quốc sẽ có ít lao động hơn. Điều quan trọng là cơ cấu và kỳ vọng của lực lượng lao động nước này gần như chắc chắn sẽ phải thay đổi.

Lực lượng lao động di cư từ nông thôn, vốn cung cấp nhân lực cho các nhà máy và công trường xây dựng, đang già hóa. Khoảng 85 triệu lao động di cư đã trên 50 tuổi vào năm 2022, gần gấp đôi tỷ lệ của một thập kỷ trước đó.

Trong khi đó, người trẻ Trung Quốc thường không mặn mà với những công việc lương thấp, đòi hỏi thể lực cao hoặc thiếu tính ổn định.

Trung Quốc có thể giảm bớt một phần áp lực này nhờ robot và cải thiện năng suất. Tuy nhiên, tự động hóa khó có thể thay thế dễ dàng nhân viên chăm sóc, lao động ngành dịch vụ lưu trú và khách sạn, hay toàn bộ lực lượng công nhân xây dựng. Công nghệ cũng không thể giải quyết triệt để tình trạng mất cân đối về địa lý và kỹ năng.

Một quốc gia có thể đồng thời tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu lao động khi người tìm việc không sống ở nơi có nhu cầu tuyển dụng, thiếu kỹ năng cần thiết hoặc không chấp nhận điều kiện làm việc được đưa ra.

Các nước láng giềng của Trung Quốc đã phải đối mặt với thực tế này. Số lao động nước ngoài tại Nhật Bản đạt mức kỷ lục 2,57 triệu người vào tháng 10 năm ngoái. Hàn Quốc tiếp tục mở rộng Hệ thống cấp phép việc làm để tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ, trang trại và những lĩnh vực khác. Lực lượng lao động nước ngoài tại Singapore đạt 1,91 triệu người vào tháng 6 năm ngoái, hỗ trợ các ngành xây dựng, đóng tàu, công nghiệp chế biến và dịch vụ chăm sóc tại gia đình.

Những ví dụ này cho thấy nhập cư lao động thường không bắt đầu bằng một tuyên bố lớn rằng quốc gia đã trở thành nơi tiếp nhận người nhập cư, mà bằng các chương trình nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực cụ thể. Trung Quốc có thể đi theo con đường tương tự.

Thời điểm diễn ra sự chuyển đổi sẽ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế. Tình trạng giảm tốc tăng trưởng kinh tế kéo dài có thể khiến thiếu hụt lao động xuất hiện muộn hơn do nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp suy giảm, trong khi tự động hóa sâu rộng hơn có thể loại bỏ một số công việc lặp đi lặp lại. Tuy nhiên, điều đó chỉ làm thay đổi những ngành nghề chịu áp lực trước tiên.

Khi dân số trong độ tuổi lao động thu hẹp, Trung Quốc sẽ phải lựa chọn giữa việc chấp nhận sản lượng thấp hơn, tăng lương, đẩy nhanh tự động hóa, giữ người lao động làm việc lâu hơn và tuyển dụng nhân lực từ nước ngoài.

Thị thực K mới của Trung Quốc hướng đến các chuyên gia nước ngoài trẻ tuổi trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, việc tuyển dụng kỹ sư và nhà nghiên cứu dễ được chấp nhận về mặt chính trị hơn so với tiếp nhận số lượng lớn nhân viên chăm sóc, kỹ thuật viên, lao động dịch vụ hoặc công nhân nhà máy.

Những nhạy cảm về chính trị này có thể khiến Trung Quốc triển khai chính sách tuyển dụng lao động nước ngoài theo từng bước. Ban đầu, nước này có thể ký các thỏa thuận song phương, cho phép doanh nghiệp tại một số ngành hoặc tỉnh, thành được chỉ định bảo lãnh lao động nước ngoài, đồng thời mô tả chính sách như một biện pháp tạm thời. Công việc chăm sóc có thể là một trong những lĩnh vực sớm chịu áp lực thiếu nhân lực.

Mô hình này phù hợp với cách tiếp cận vốn ưu tiên thử nghiệm và kiểm soát hành chính. Các chương trình thí điểm có thể được mở rộng, điều chỉnh hoặc hủy bỏ mà không cần coi nhập cư là sự thay đổi lâu dài đối với bản sắc quốc gia.

Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nền kinh tế châu Á đang già hóa cho thấy những chương trình tạm thời thường trở thành cơ chế lâu dài khi doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinh doanh dựa trên nguồn lao động nước ngoài.

Nếu Trung Quốc tham gia thị trường lao động di cư châu Á với quy mô lớn, tác động sẽ vượt xa biên giới nước này. Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore hiện tuyển dụng nhiều lao động từ Việt Nam, Indonesia, Philippines và các quốc gia châu Á khác. Các nhà tuyển dụng Trung Quốc sẽ cạnh tranh để thu hút nhiều lao động trong cùng nhóm này.

Quy mô của Trung Quốc có thể đẩy tiền lương và chi phí tuyển dụng lên cao trên toàn khu vực. Đồng thời, điều này cũng có thể củng cố vị thế đàm phán của các chính phủ đưa lao động ra nước ngoài, giúp họ có thêm cơ sở yêu cầu cải thiện các biện pháp bảo vệ người lao động tại nơi làm việc, giảm phí môi giới và tăng cường thực thi các quy định nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng.

Người lao động di cư sẽ có nhiều lựa chọn hơn để so sánh các điểm đến dựa trên mức lương, chi phí sinh hoạt, an toàn cá nhân, khả năng đoàn tụ gia đình và cơ hội định cư lâu dài.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Trung Quốc sẽ đẩy mạnh thu hút lao động nhập cư?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO