Việt Nam - “đêm trước” mùa thu năm 1945 (Bài 1)

Trương Khắc Trà 28/08/2019 05:17

Điều gì khiến một đất nước hoang tàn kiệt quệ sau 80 năm liên tục bị đô hộ bỗng dưng bật lên để giành lại độc lập trong bối cảnh đầy phức tạp giữa thế kỷ XX?

Lịch sử Việt Nam rất đồ sộ, không chỉ bởi quãng đường 4.000 năm mà còn là những bài học về đại đoàn kết dân tộc, nghệ thuật quân sự, trưởng thành tâm lý dân tộc…

Không chỉ người Việt, mà cả cộng đồng sử gia quốc tế đều ngã mũ kính nể, bởi chân lý “Dân tộc Việt Nam không thể bị đánh bại!”

Tôi không phải là một người biên khảo lịch sử, nên mục đích loạt bài viết này chỉ là cảm nhận và rút ra bài học về thời khắc quan trọng của dân tộc dựa trên những cứ liệu lịch sử quan trọng đã được thừa nhận rộng rãi.

Cũng như mọi cuộc cách mạng từ cổ chí kim trong lịch sử nhân loại, “đêm trước” của nó là hàng loạt biến chuyển đạt đến mức độ “vỡ bờ”. Cách mạng tháng tám năm 1945 của dân tộc ta cũng mang mẫu số chung đó.

Tuy nhiên, cách mạng tháng Tám dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam còn có những điều đặc biệt được tạo nên bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khoảnh khắc lóe sáng của các vĩ nhân. Đặt trong bối cảnh thế giới hỗn loạn lúc bấy giờ mới thấy được tầm vóc con người Việt Nam không hề thua kém bất cứ dân tộc nào.

Tính sơ bộ kể từ mốc năm 1858 - khi thực dân Pháp bắn viên đạn đầu tiên trên biển Đà Nẵng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà mở màn khoảng thời gian đen tối - Tây thuộc, đến khi cách mạng mùa thu 1945 thành công là 87 năm nước mất nhà tan - Việt Nam hầu như không có cơ hội xây dựng đất nước và phát triển kinh tế.

Xét theo các con số thống kê đáng tin cậy thì năm 1930 báo cáo của “Economic Divergence in East Asia” cho thấy GDP đầu người của cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam đều ở mức thấp nhất châu Á.

Khoảng thời gian này Malaysia, Nhật Bản và Sri Lanka là những quốc gia đứng đầu, với thu nhập đầu người cao hơn chúng ta nhiều lần. Các nước khác trong khu vực cũng đều có thu nhập cao hơn cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam.

Suốt những năm 1920 đến 1940 kinh tế Việt Nam hầu như “đi ngang” thậm chí nửa đầu của thập niên 30 biểu đồ cho thấy sự “đi xuống”. Đã thế, Việt Nam mất hoàn toàn thiết chế giáo dục tự chủ, đến 90% dân số mù chữ!

Biểu đồ thể hiện thảm trạng kinh tế Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (Nguồn:

Biểu đồ thể hiện thảm trạng kinh tế Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (Nguồn: Economic Divergence East Asia)

Thật ra, nền kinh tế nội địa được thực dân Pháp “đầu tư” khá bài bản, chủ yếu tập trung ở khai khoáng, đồn điền, giao thông vận tải. Đã có những trung tâm công nghiệp, miền Bắc có Hải Phòng, Nam Định, Vinh, miền Nam có Quy Nhơn, Sài Gòn, Thủ Dầu Một, ở Trung Kỳ, giai đoạn này chưa ghi nhận dấu hiệu đáng kể nào về công nghiệp.

Tuy nhiên, thặng dư mang lại chuyển thẳng về Paris để phục vụ cho chính quốc đối phó với khủng hoảng tài kinh tế 1929 - 1933 và chuẩn bị cho chiến tranh thế giới thứ II.

Có thể bạn quan tâm

  • Những hình ảnh hào hùng của Cách mạng tháng Tám

    Những hình ảnh hào hùng của Cách mạng tháng Tám

    08:51, 19/08/2017

  • “Cách mạng Tháng tám” của hôm nay

    “Cách mạng Tháng tám” của hôm nay

    05:12, 02/09/2017

Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới thứ II khai hỏa, Đức quốc xã nhanh chóng đánh chiếm gần hết châu Âu, trong đó có Pháp. Lợi dụng tình hình này, ngày 22/9/1940 Nhật cất quân vượt biên giới Việt - Trung đánh vào Lạng Sơn, đồng thời cho 6.000 thủy quân lục chiến đổ bộ lên Đồ Sơn, chính thức hất cẳng Pháp khỏi nước ta.

Sự kiện mà sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong di chúc, có đoạn “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa…”.

Sau khi Pháp bỏ chạy, ngày 6/5/1941, Hiệp ước Tokyo được ký, trong đó Pháp thừa nhận địa vị “ưu đãi đặc biệt” của Nhật trong quan hệ kinh tế với Đông Dương, từ đây Việt Nam, Lào và Campuchia là thị trường độc chiếm của người Nhật.

Thế chiến II là cuộc đối đầu giữa trục phát xít (Đức, Nhật) với phe đồng minh Mỹ - Anh - Pháp nhằm chia lại lợi ích kinh tế toàn cầu. Việc Việt Nam rơi vào tay phát xít Nhật càng làm cho hiện trạng nền kinh tế thê thảm hơn.

Ngành giao thông vận tải được chuyển đổi mục đích sử dụng phục vụ cho quân đội Nhật, họ độc chiếm toàn bộ đường sắt và cảng biển, hàng năm chính quyền thuộc địa phải cống nạp khoản tiền khổng lồ.

Quân đội Nhật tịch thu hết ruộng đất, phá lúa nước trồng đay và thầu dầu cung ứng cho mặt trận chiến tranh - đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử Việt Nam khiến 2 triệu người chết.

Nhật còn buộc chính quyền thuộc địa Pháp giành 50% giá trị nhập khẩu và 5% giá trị xuất khẩu của Đông Dương cho các công ty của họ. Hầu như toàn bộ mặt hàng xuất cảng có giá trị ở Đông Dương như than đá, sắt, kẽm, cao su, xi măng đều cập bến Nhật.

Chính quyền Nhật còn “mua rẻ” khoáng sản chiến lược, nông sản đặc phẩm ở Đông Dương làm cho cán cân thương mại chênh lệch rất lớn, hay nói cách khác, người Nhật “chấp nhận” thâm hụt thương mại với Đông Dương để đảm bảo sức lực cho thế chiến II.

Lúc này, “nền kinh tế chỉ huy” được đẩy lên cao độ tại Việt Nam, thật ra thể chế kinh tế này là “bản sao” của “NEP” đang rất thành công ở Liên Xô từ năm 1920.

Hậu quả, Việt Nam bị khai thác kiệt quệ, cung phụng cho cả Nhật lẫn Pháp, nền nông nghiệp sụp đổ, công nghiệp nặng bị “rút ruột”, công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp sa sút nghiêm trọng.

Đây là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy động lực cách mạng.

Nạn đói khiến 2 triệu người chết là hệ quả của chính sách kinh tế phát xít (Ảnh tư liệu)

Nạn đói khiến 2 triệu người chết là hệ quả của chính sách kinh tế phát xít (Ảnh tư liệu)

Kinh tế chỉ huy chỉ vận hành tốt khi nó dựa trên chế độ phân phối hợp lý, trong khi đó người lao động bị bóc lột trắng trợn nên xung đột gay gắt là điều dễ hiểu. Các liệu này là bài học cảnh báo quan trọng, nhưng rất tiếc sau khi thống nhất đất nước kinh tế chỉ huy một lần nữa được áp dụng.

Định mệnh một lần nữa thử thách dân tộc Việt Nam trong bước đường cùng, không còn đường lùi, hoặc sống mòn tiến dần tới cái chết hoặc vùng dậy đúng thời điểm quyết định!

Chúng ta có thể cảm nhận bức tranh kinh tế bi thảm trong vài truyện ngắn nổi tiếng của nền văn học hiện thực phê phán giai đoạn này, như: “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Một bữa no” của Nam Cao hoặc “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng, “Lầm than” của Lan Khai, “Làng” của Kim Lân”…

Điều gì khiến một đất nước hoang tàn kiệt quệ sau 80 năm liên tục bị đô hộ bỗng dưng bật ra như chiếc “lò xo nén cực đại” một cách kỳ lạ để giành lại độc lập trong bối cảnh đầy phức tạp giữa thế kỷ XX?

Còn tiếp…

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Việt Nam - “đêm trước” mùa thu năm 1945 (Bài 1)
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO