Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh sẽ tạo ra một “lực đẩy kép”: vừa mở rộng không gian phát triển, vừa gia tăng cường độ liên kết.
Ông Quản Minh Cường - Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh nhấn mạnh khi trao đổi với báo chí về dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh.

Ngay trước thời điểm khởi công (ngày 12/4 tới), dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh thu hút sự quan tâm lớn khi được kỳ vọng tạo cú hích hạ tầng chiến lược cho khu vực phía Bắc. Đây là một trong những dự án giao thông quy mô lớn, có tổng mức đầu tư hàng tỷ USD, kết nối 4 trung tâm kinh tế quan trọng gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh.
Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh do Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đường sắt cao tốc VinSpeed (thành viên Tập đoàn Vingroup) làm chủ đầu tư. Tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 120,2km, đi qua 4 địa phương là Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh.
Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 147.000 tỷ đồng, tương đương hơn 5,6 tỷ USD. Trong đó, đoạn qua TP Hà Nội có chiều dài khoảng 16km (điểm đầu tại Km0+000, điểm cuối tại Km16+078. Đoạn qua tỉnh Bắc Ninh có chiều dài khoảng 32km (điểm đầu tại Km16+078, điểm cuối tại Km47+865). Đoạn qua TP Hải Phòng có chiều dài khoảng 33km (điểm đầu tại Km47+865, điểm cuối tại Km80+949). Đoạn qua tỉnh Quảng Ninh có chiều dài khoảng 39km (điểm đầu tại Km80+949, điểm cuối tại Km120+215), đi qua các xã, phường: Mạo Khê, Hoàng Quế, Yên Tử, Uông Bí, Đông Mai, Hà An, Tuần Châu.
Tuyến được thiết kế theo tiêu chuẩn đường đôi, khổ 1.435mm, điện khí hóa toàn tuyến. Tốc độ thiết kế tối đa 350km/h, riêng đoạn qua Hà Nội khoảng 120km/h. Điểm đặc biệt của dự án là phương án thiết kế trên cao hóa gần toàn bộ tuyến. Trong tổng số 120km chỉ có khoảng 4km đi trên mặt đất, còn lại 116km là cầu cạn, cầu vượt sông, cầu vượt đường bộ và đường sắt hiện hữu.
Dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh, tốc độ thiết kế 350 km/h sẽ khởi công vào ngày 12/4 tới. Hạ tầng tỷ đô rút ngắn thời gian di chuyển giữa 2 cực tăng trưởng kinh tế lớn nhất miền Bắc xuống còn 23 phút, sẽ đưa Vinhomes Global Gate Hạ Long - “Hà Nội mới” bên vịnh di sản - lên bản đồ an cư và đầu tư toàn cầu.
Ở góc độ phát triển vùng, ông Quản Minh Cường - Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh nhìn nhận, tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh sẽ góp phần tái định hình không gian phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ và hiệu quả hơn, tạo ra một trục liên kết tốc độ cao giữa Thủ đô Hà Nội với các trung tâm kinh tế động lực: Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh.
Tuyến đường sắt được kỳ vọng rút ngắn mạnh thời gian di chuyển, qua đó xóa nhòa khoảng cách địa lý, hình thành một không gian kinh tế thống nhất giữa bốn địa phương, nơi mỗi địa phương phát huy vai trò riêng và bổ trợ lẫn nhau.

“Quảng Ninh trong tổng thể đó được định vị rõ nét: là cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc, điểm kết nối giữa nội địa với biển và thị trường quốc tế. Với hệ thống cửa khẩu quốc tế, cảng biển nước sâu, sân bay Vân Đồn và nay được bổ sung thêm trục đường sắt tốc độ cao kết nối trực tiếp với Thủ đô, vị thế của tỉnh trong chuỗi liên kết vùng được nâng lên một tầm mới.
Quan trọng hơn, chúng tôi xác định đây không đơn thuần là một dự án giao thông, mà là một động lực mới để thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế theo chiều sâu, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân, khẳng định hướng đi mà Quảng Ninh đang kiên trì theo đuổi: chuyển đổi từ phụ thuộc khai khoáng sang dịch vụ, du lịch, kinh tế biển, logistics, công nghiệp công nghệ cao”. – Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh Quản Minh Cường nói.
Theo Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Quản Minh Cường, việc rút ngắn thời gian di chuyển giữa Hà Nội và Quảng Ninh xuống còn khoảng 23 phút sẽ tạo ra những tác động sâu rộng, vượt xa phạm vi giao thông đơn thuần.
Trên bình diện không gian kinh tế và liên kết vùng, tuyến đường sắt tốc độ cao được kỳ vọng sẽ bám sát định hướng về hình thành các hành lang kinh tế và chuỗi sản xuất khu vực, tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Phòng - Quảng Ninh sẽ tạo thành hành lang kinh tế tốc độ cao Bắc Bộ, trong đó mỗi địa phương đảm nhận chức năng chuyên biệt. Quảng Ninh khi đó sẽ nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực, thực sự trở thành cực tăng trưởng phía Đông của vùng, cửa ngõ giao thương quốc tế hàng đầu, đặc biệt trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc.
Ở góc độ đô thị và thị trường lao động, khi ranh giới giữa các địa phương được “rút ngắn lại”, Quảng Ninh khi đó sẽ không còn ở vị trí “xa trung tâm” mà trở thành một bộ phận hữu cơ trong vùng đô thị mở rộng của Thủ đô. Các nhà ga (Yên Tử, Hạ Long Xanh) trở thành hạt nhân phát triển đô thị mới theo mô hình TOD, thay đổi diện mạo hạ tầng, tăng giá trị bất động sản, thu hút cư dân và nguồn nhân lực chất lượng cao. Thị trường lao động của tỉnh mở ra khả năng thu hút chuyên gia, nhà nghiên cứu, lao động tri thức, nhân lực chất lượng cao có thể di chuyển đi lại làm việc trong ngày, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ thâm dụng lao động sang thâm dụng tri thức, tạo điều kiện cho việc thu hút, thành lập các cơ sở nghiên cứu, trung tâm đào tạo chuyên ngành đặt tại Quảng Ninh, phục vụ nhu cầu của cả vùng kinh tế ven biển Bắc Bộ.
Đối với lĩnh vực du lịch, tác động sẽ rõ nét ngay sau khi dự án được đưa vào hoạt động; du lịch Quảng Ninh sẽ có sự chuyển dịch từ du lịch cuối tuần, khách đoàn sang du lịch có tần suất lớn, phân khúc chi tiêu cao, các hình thức đa dạng từ nghỉ dưỡng, du lịch di sản, kinh tế đêm. Sản phẩm du lịch được đa dạng hóa và có bản sắc riêng theo từng ga: Yên Tử gắn với tâm linh - sinh thái; Hạ Long gắn với biển - nghỉ dưỡng và đô thị. Khi dòng khách ổn định, hệ sinh thái du lịch phát triển theo chiều sâu: dịch vụ sức khỏe, nghỉ dưỡng, sản phẩm văn hóa bản địa, trải nghiệm vùng mỏ; để Quảng Ninh thực sự trở thành trung tâm du lịch quốc gia và quốc tế.
Từ tổng thể các tác động đó, ông Quản Minh Cường nhấn mạnh hiệu ứng “lực đẩy kép” mà dự án mang lại cho phát triển. Đó là vừa mở rộng không gian phát triển, vừa gia tăng cường độ liên kết. Sự kết hợp bốn phương thức vận tải, đường sắt, đường biển, đường bộ, hàng không, tại một địa bàn tạo ra lợi thế mà ít địa phương biên giới nào có được, do đó, Tỉnh Quảng Ninh sẽ quyết tâm, chủ động tận dụng, khai thác những cơ hội từ tuyến đường sắt tốc độ cao này, coi đây là công trình hạ tầng chiến lược, góp phần phát triển tỉnh Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương hiện đại, thông minh, xanh và bền vững.
Để hiện thực hóa các lợi ích này, yêu cầu đặt ra là phải có cách tiếp cận đồng bộ ở tầm quốc gia, trong đó vai trò điều phối, dẫn dắt của Trung ương.
Ở góc độ chính sách, Quảng Ninh kiến nghị Trung ương tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc triển khai các dự án hạ tầng chiến lược, đặc biệt là các dự án có tính liên kết vùng. Trong đó, cần có cơ chế đủ mạnh để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội hóa, bảo đảm tiến độ và chất lượng dự án.
Song song với đó, cần có sự thống nhất cao trong quy hoạch và đầu tư hạ tầng kết nối. Đường sắt tốc độ cao chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong một mạng lưới giao thông đồng bộ, liên thông giữa đường sắt, đường bộ, cảng biển, hàng không và các khu kinh tế, khu công nghiệp; đặc biệt là bảo đảm kết nối đồng bộ giữa tuyến đường sắt tốc độ cao với đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái. Do đó, việc điều phối phát triển giữa các địa phương trong vùng cần được thực hiện một cách chặt chẽ, hiệu quả hơn.
Về phía địa phương, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh Quản Minh Cường khẳng định sẽ tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương liên quan để triển khai dự án đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, đồng thời khai thác hiệu quả các cơ hội mà tuyến đường sắt mang lại.
Ông Quản Minh Cường kỳ vọng rằng, khi tuyến đường sắt tốc độ cao được đưa vào vận hành, không chỉ Quảng Ninh mà cả vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ sẽ có thêm một động lực phát triển mới, mạnh mẽ và bền vững hơn. Quan trọng hơn, mọi thành quả của sự phát triển đó phải hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, để người dân thực sự là chủ thể và là người thụ hưởng trực tiếp từ những công trình hạ tầng chiến lược như thế này.