Ở thời điểm chi phí năng lượng tăng và áp lực chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng góp phần đảm bảo an ninh kinh tế và nâng cao sức chống chịu nền kinh tế.
Chuyên gia kinh tế năng lượng Phạm Phan Dũng từ Bộ Công Thương đã đề cập khía cạnh quan trọng của yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng với nền kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp.
Do tác động từ xung đột tại Trung Đông, giá năng lượng đang biến động, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Điều này khiến doanh nghiệp chịu áp lực kép: vừa từ chi phí đầu vào tăng vừa thúc đẩy chuyển đổi xanh để đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn xanh ngày càng có xu hướng khắt khe hơn từ của các thị trường xuất khẩu.

Ông Phạm Phan Dũng cho rằng, chuyển đổi xanh vì thế đã trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, trong bối cảnh bất định của toàn cầu, một khía cạnh khác cần được nhìn nhận là mối liên hệ giữa chuyển đổi năng lượng và khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Những biến động địa chính trị, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu như than, dầu, khí, theo ông Phạm Phan Dũng đang tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thực tế trên cho thấy việc phát triển năng lượng tái tạo, đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và củng cố hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện môi trường mà gắn với chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế dài hạn.
Nói cách khác, yêu cầu chuyển đổi năng lượng đã vượt qua sức ép thị trường và gắn với mục tiêu cấp bách và quan trọng là nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, của doanh nghiệp.
Từ góc độ doanh nghiệp, chuyển đổi xanh gắn với đổi mới công nghệ, tối ưu quy trình và thu hồi năng lượng trong sản xuất. Doanh nghiệp có thể bắt đầu quá trình này từ những giải pháp cụ thể, thiết thực như chuyển đổi sử dụng thiết bị tiết kiện năng lượng, tối ưu sản xuất từ việc ứng dụng công nghệ hiện đại hơn…
Tuy nhiên, để hiện thực các mục tiêu trên, nguồn lực, nhất là nguồn lực tài chính có vai trò them chốt. Việc đổi mới công nghệ, chuyển sang sử dụng năng lượng sạch hay tối ưu hóa hệ thống sản xuất đều đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, trong khi phần lớn doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Do vậy, điểm nghẽn lớn nhất hiện nằm ở nguồn lực tài chính.
Chuyên gia kinh tế năng lượng Phạm Phan Dũng cho rằng, để hoá giải điểm nghẽn và phát huy hiệu quả dòng vốn xanh cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; đặc biệt cần sự tham gia dẫn dắt mạnh mẽ hơn nữa từ các cơ chế, chính sách. Nguyên do bởi các ngân hàng không thể đơn phương gánh vác vai trò hỗ trợ hay giảm lãi suất cho các dự án xanh.

Do vậy, chính sách cần đóng vai trò dẫn dắt và kích hoạt thị trường, tập trung vào ba trụ cột: hỗ trợ đổi mới công nghệ, hỗ trợ tài chính và hoàn thiện hành lang pháp lý. Trong đó, việc ưu tiên tín dụng xanh, định hướng dòng vốn cho các dự án chuyển đổi năng lượng, cùng với xây dựng danh mục ngành nghề ưu tiên là yếu tố then chốt để ngân hàng có cơ sở triển khai.
Từ phía ngân hàng, theo đại diện một số ngân hàng, gần đây tỷ lệ vốn xanh được giải ngân cho các doanh nghiệp đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay vẫn nằm ở khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp do khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu thủ tục, tiêu chuẩn. Trong khi đó, hệ thống dữ liệu chưa đáp ứng được việc đo lường, theo dõi, so sánh các chỉ tiêu về môi trường.
Vấn đề cốt lõi ở đây là sự thiếu đồng bộ giữa nhu cầu chuyển đổi và khả năng tài chính để thực hiện khiến cho một khoảng trống đang tồn tại giữa hai phía. Lấp đầy khoảng trống cần cú hích từ cơ chế chính sách. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết, theo chỉ đạo tại những nghị quyết chiến lược, hiện nay các cơ quan có liên quan đang hoàn thiện pháp lý để hiện thực chủ trương hỗ trợ lãi suất khoảng 2% cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh thực hiện dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn hoặc theo tiêu chuẩn ESG. Qua đó, sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp hỗ trợ tài chính cho chuyển đổi xanh.
Chuyên gia từ Bộ Công Thương đề xuất thêm giải pháp xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đây sẽ là nơi huy động nguồn vốn từ ngân sách và các tổ chức quốc tế, sau đó ủy thác qua hệ thống ngân hàng thương mại để giải ngân.
Cách tiếp cận này vừa tận dụng được năng lực thẩm định và mạng lưới của ngân hàng, vừa giúp giảm chi phí vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính thuận lợi hơn.