Đại hội IV năm 1976 tại Hà Nội đặt nền cho thời kỳ kiến thiết trong hòa bình, củng cố bộ máy lãnh đạo và xác định trọng tâm phát triển sau thống nhất…
Hà Nội, tháng 12/1976. Đại hội Đảng lần thứ IV diễn ra trong thời khắc đất nước thống nhất và hòa bình. Đây là kỳ Đại hội đầu tiên sau ngày non sông liền một dải, nơi Đảng kiện toàn nhân sự lãnh đạo và xác lập những ưu tiên chiến lược cho giai đoạn kiến thiết quốc gia trong thời bình.

Sau 15 năm thực hiện đường lối Đại hội lần thứ III của Đảng, Nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối, mở ra kỷ nguyên đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đất nước chuyển trạng thái, từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ chia cắt thành thống nhất, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, phải đối diện những khó khăn, thử thách to lớn. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới; đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước của Nhân dân và các đoàn thể quần chúng trong giai đoạn Nhân dân ta đã làm chủ toàn bộ đất nước.
Từ ngày 14 - 20/12/1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV họp tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.008 đại biểu thay mặt cho hơn một triệu rưỡi đảng viên trong cả nước.
Đại hội khẳng định thắng lợi vẻ vang và đúc kết những bài học có giá trị to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[14].

Đại hội đề ra đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.
Trên cơ sở đường lối chung, Đại hội đề ra đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới ở Việt Nam, trong đó, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đường lối chung và đường lối kinh tế, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 nhằm hai mục tiêu cơ bản là: Xây dựng một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động.

Đại hội đề ra nhiệm vụ và chính sách đối ngoại; góp phần vào việc tăng cường đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; ra sức bảo vệ và phát triển quan hệ gắn bó giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia; góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đề ra đường lối xây dựng Đảng để Đảng đủ năng lực lãnh đạo trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; thông qua phong trào cách mạng của quần chúng; gắn công tác xây dựng Đảng với kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực của Nhà nước. Điều lệ mới do Đại hội thông qua thể hiện một cách đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; qui định thời gian Đại hội toàn quốc và nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm; thời gian Đại hội đảng bộ các cấp tỉnh, huyện, quận và nhiệm kỳ của các cấp ủy cùng cấp là 2 năm; thời gian Đại hội ở chi bộ, Đảng bộ cơ sở và nhiệm kỳ của các cấp ủy cùng cấp là 1 năm; quy định về việc lập Đảng đoàn trong các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức quần chúng. Điều lệ mới đặt lại chức danh Tổng Bí thư thay cho chức danh Bí thư thứ nhất.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất bầu ra Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội lần thứ IV của Đảng có ý nghĩa lịch sử to lớn, là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, là Đại hội đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục khẳng định con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn; vạch ra đường lối chung đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng được củng cố về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
(Còn tiếp)
----------------------------------------
* Nguồn: Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
[1] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.192-193.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.
[4] Xem Học viện Chính trị quốc gia, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 319.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.32-33.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.37.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12,tr. 435.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.444.
[9] Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 339.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr 486.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 512.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 524.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 21, tr. 951.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr. 471.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr.523-524.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.50.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.53.
[17]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t. 47, tr.360.
[18]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.376.
[19]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.381.
[20]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398-399.
[21]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398.
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.9.
[23] Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.
[24] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.67-68.
[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 80.
[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.86.
[27] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2006, tr.68.
[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, H,2006, tr.23
[29] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.177.
[30] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.71.
[31] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 65.
[32] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 66.
[33] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.1, tr. 25.