Đại hội X năm 2006 tại Hà Nội tổng kết 20 năm Đổi mới, khẳng định thành tựu lịch sử, đồng thời đề ra mục tiêu đẩy mạnh đổi mới toàn diện để sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Hà Nội, tháng 4/2006. Sau hai thập niên tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đã tạo dựng thế và lực mới, song vẫn đứng trước yêu cầu phải bứt ra khỏi tình trạng kém phát triển trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Đại hội X của Đảng được triệu tập để tổng kết 20 năm Đổi mới, thẳng thắn nhìn nhận hạn chế và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Việc xác lập mục tiêu đẩy mạnh đổi mới toàn diện đã trở thành trọng tâm chiến lược, nhằm huy động mọi nguồn lực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Trong nửa đầu thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI trên bình diện thế giới, toàn cầu hóa, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Khoa học và công nghệ có bước nhảy vọt và những đột phá lớn chưa từng có. Đan xen những xu hướng và những biến chuyển tích cực đó, đời sống quốc tế vẫn tiềm ẩn những phức tạp, khó lường.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước con người Việt Nam đã tiến những bước dài trên con đường xây dựng và phát triển. Sức mạnh về mọi mặt được tăng cường; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, đất nước cũng đối diện với nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập. Việt Nam vẫn trong tình trạng kém phát triển. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền gây bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001 và năm 2004. Nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia rất quan trọng,…
Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng một chiến lược, định hướng đúng đắn huy động tốt mọi nguồn lực sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển là yêu cầu và trách nhiệm nặng nề đặt ra đối với Đảng. Đó cũng là sứ mệnh của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội diễn ra từ ngày 18 - 25/4/2006, tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu, đại diện cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Tổng kết 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Đại hội khẳng định: Hai mươi năm qua với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Ðất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”[27].
Đại hội thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng, những khó khăn, thử thách mà Nhân dân ta phải đối diện, nhất nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,... Đại hội đúc kết bài học kinh nghiệm của 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới.

Đại hội đề ra mục tiêu, phương hướng tổng quát về phát triển kinh tế, xã hội của 5 năm 2006 - 2010; mục tiêu trực tiếp đến năm 2010 là “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”[28].
Trên có sở đó, Đại hội đề ra chủ trương: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; Phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần xã hội; Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; Phát huy dân chủ, tiếp tục hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Để chuẩn bị cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội tập trung bàn thảo để bổ sung các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và bổ sung, phát triển nội dung các đặc trưng cũng như chuẩn hóa về diễn đạt và ngữ nghĩa các đặc trưng về xã hội xã hội chủ nghĩa.
Đại hội thông qua toàn văn Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được bổ sung, sửa đổi. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam có một ý nghĩa to lớn. Đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Đại hội đã thúc đẩy sự năng động, sáng tạo và nỗ lực của toàn dân tộc đẩy mạnh mọi mặt công cuộc đổi mới mà mục tiêu là đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
(Còn tiếp)
----------------------------------------
* Nguồn: Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
[1] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.192-193.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.
[4] Xem Học viện Chính trị quốc gia, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 319.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.32-33.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.37.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12,tr. 435.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.444.
[9] Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 339.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr 486.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 512.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 524.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 21, tr. 951.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr. 471. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr.523-524.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.50.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.53.
[17]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t. 47, tr.360.
[18]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.376.
[19]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.381.
[20]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398-399.
[21]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398.
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.9.
[23] Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.
[24] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.67-68.
[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 80.
[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.86.
[27] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2006, tr.68.
[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, H,2006, tr.23
[29] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.177.
[30] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.71.
[31] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 65.
[32] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 66.
[33] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.1, tr. 25.