Chính trị - Xã hội

Để Việt Nam “cất cánh” từ “bộ tứ trụ cột”

Hải Ngân - Nguyễn Chuẩn thực hiện 30/08/2025 04:22

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách để hội nhập sâu rộng hơn, “bộ tứ trụ cột” gồm các Nghị quyết 57, 59, 66, 68 của Bộ Chính trị được ví như động lực then chốt cho sự phát triển bền vững.

hong diep
PGS TS Phạm Thị Hồng Điệp

Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc phỏng vấn với PGS TS Phạm Thị Hồng Điệp, Phó Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Chủ nhiệm Bộ môn Quản lý kinh tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, để làm rõ tầm nhìn chiến lược, thách thức thực thi và các giải pháp cụ thể, biến những nghị quyết này thành hiện thực, giúp đất nước tăng trưởng và tự cường hơn.

- Thưa bà, Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW là “Bộ tứ trụ cột” để giúp đất nước Việt Nam cất cánh, bà nhận thấy tầm nhìn chiến lược chung và mối liên hệ quan trọng của “bộ tứ” này là gì?

Bộ tứ nghị quyết mà Bộ Chính trị ban hành gần đây có một tầm nhìn chiến lược rất rõ ràng. Nghị quyết 66 về hoàn thiện hệ thống pháp luật chính là nền móng, tạo môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định. Nghị quyết 57 về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân đặt khu vực này trở thành đầu kéo tăng trưởng. Và Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế là đòn bẩy để tận dụng ngoại lực và khuếch đại nội lực ra thị trường toàn cầu.

Có thể thấy, giữa bốn nghị quyết tồn tại mối quan hệ rất chặt chẽ. Nghị quyết 66 về hoàn thiện hệ thống pháp luật chính là điều kiện tiên quyết, bởi chỉ khi có khung pháp luật minh bạch, bảo vệ tốt quyền tài sản, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và chuẩn quản trị rủi ro thì đổi mới sáng tạo (Nghị quyết 57) và kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68) mới có thể bứt phá. Từ đó, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trở thành lực đẩy trực tiếp, giúp doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng suất, chất lượng, tạo mô hình kinh doanh mới, đồng thời thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp, doanh nghiệp công nghệ cao. Ở chiều ngược lại, hội nhập quốc tế (Nghị quyết 59) vừa đặt ra áp lực phải nâng chuẩn thể chế pháp luật, vừa mở ra thị trường và chuỗi giá trị toàn cầu cho khu vực tư nhân, đồng thời lan tỏa tri thức, công nghệ, nhân lực chất lượng cao để tăng tốc cho đổi mới sáng tạo.

Đặc biệt, khi kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, thực tiễn sản xuất kinh doanh sẽ chỉ ra những ‘điểm nghẽn’ để tiếp tục hoàn thiện pháp luật và tạo thêm nhu cầu công nghệ, hình thành một vòng xoáy tích cực giữa thể chế – đổi mới – thị trường. Đây chính là sự gắn kết logic giúp bộ tứ nghị quyết trở thành trụ cột chiến lược cho sự cất cánh của đất nước.

“Bộ tứ trụ cột” được Tổng Bí thư Tô Lâm xác định là nền tảng chiến lược then chốt để đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và vươn mình mạnh mẽ trong tương lai.

- Muốn biết đất nước đã và đang “cất cánh” hay chưa, ngoài những chỉ tiêu truyền thống như tăng trưởng GDP hay GDP bình quân/người, chúng ta cần phải có thêm hệ thống chỉ báo rõ ràng hơn cho từng trụ cột, thưa bà?

Đúng vậy! Đối với Nghị quyết 66 về hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong ngắn hạn (1–2 năm) có thể đo bằng số lượng văn bản pháp luật được sửa đổi, bãi bỏ để giảm chồng chéo, cũng như mức độ minh bạch, dễ dự báo của chính sách. Còn trong trung hạn (3–5 năm), thước đo quan trọng là vị trí và mức độ cải thiện của Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế uy tín ví dụ như Rule of Law Index (Chỉ số pháp quyền) và Ease of Doing Business (Chỉ số môi trường kinh doanh). Đây là những chỉ báo khách quan và được cộng đồng quốc tế công nhận, phản ánh khá chính xác chất lượng thể chế và năng lực thực thi pháp luật của chúng ta.

Đối với Nghị quyết 57 về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong ngắn hạn (1-2 năm), có thể đo bằng số lượng bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được đăng ký, số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số, cũng như tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến được sử dụng. Trong trung hạn (3-5 năm), thước đo quan trọng là tỷ trọng kinh tế số trong GDP, tỷ lệ đầu tư cho R&D/GDP hay số lượng doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có vị thế khu vực.

Với Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, ngắn hạn có thể đánh giá qua số lượng doanh nghiệp mới thành lập, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn tín dụng chính thức và mức cải thiện môi trường kinh doanh theo phản hồi của doanh nghiệp. Trung hạn, chỉ báo quan trọng là tỷ trọng đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP và ngân sách nhà nước, cũng như số doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh quốc tế.

Đối với Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế, ngắn hạn (1–2 năm) có thể nhìn vào giá trị xuất khẩu sang các thị trường FTA mới, số doanh nghiệp đạt chứng chỉ, chuẩn mực quốc tế về chất lượng và lao động. Trong trung hạn 3-5 năm, những thước đo quan trọng là Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thị trường xuất nhập khẩu được đa dạng hóa, và vị trí của Việt Nam được cải thiện trên các bảng xếp hạng hội nhập kinh tế quốc tế.

- Nghị quyết 68 đặt ra kỳ vọng lớn để phát triển kinh tế tư nhân, tuy nhiên những doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu năng lực để tận dụng cơ hội. Theo bà, những giải pháp nào là cần kíp để thu hẹp khoảng cách này, giúp khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị có hàm lượng công nghệ cao?

Theo tôi, có hai hướng can thiệp cần kíp.

Về phía Nhà nước, cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn tiếp cận vốn và đất đai, đồng thời thiết kế các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và bảo hộ sở hữu trí tuệ để họ có thể tham gia vào các chuỗi giá trị công nghệ cao. Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích hợp tác công – tư trong đổi mới sáng tạo, và các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ cũng là một giải pháp quan trọng.

Về phía các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường kinh tế, cần đổi mới chương trình giảng dạy gắn chặt với thực tiễn doanh nghiệp: đào tạo kỹ năng quản trị hiện đại, phân tích dữ liệu, tài chính số và quản trị rủi ro. Các trường cũng có thể trở thành cầu nối bằng cách tổ chức nhiều hơn các chương trình ươm tạo khởi nghiệp, kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với chuyên gia, tập đoàn lớn và mạng lưới quốc tế.

Khi Nhà nước tạo khung thể chế thuận lợi, và các trường đại học cung cấp nguồn nhân lực và tri thức phù hợp, khu vực tư nhân sẽ có cơ hội thực sự để nâng cấp và tham gia sâu hơn vào những chuỗi giá trị có hàm lượng công nghệ cao.

- Trân trọng cảm ơn bà!

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Để Việt Nam “cất cánh” từ “bộ tứ trụ cột”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO