Tín dụng cho nông nghiệp xanh vẫn còn hạn chế, yêu cầu cấp thiết phải có "cú hích" thể chế khơi thông dòng tiền, đồng thời hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu, công nghệ và liên kết chuỗi.
Tính đến đầu năm 2026, dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,2 triệu tỉ đồng, tăng hơn 14% so với năm trước, chiếm trên 22% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế, trực tiếp hỗ trợ hơn 14,6 triệu khách hàng trên cả nước.

Đáng lưu ý, tín dụng xanh cũng ghi nhận đà tăng trưởng tích cực, đạt gần 780.000 tỉ đồng vào cuối năm 2025, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế cho dòng vốn vào nông nghiệp xanh.
Ông Nguyễn Văn Long, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nhật Long chia sẻ, vẫn có những điểm nghẽn khi các mô hình chuỗi giá trị xanh trong nông nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
“Cần hiểu rằng tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp là hình thức cấp vốn dựa trên mối liên kết giữa các khâu từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, doanh nghiệp cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi tham gia tín dụng theo chuỗi giá trị”, ông Long nhấn mạnh.
Đồng thời cho biết các vướng mắc của doanh nghiệp là năng lực tổ chức sản xuất chuỗi còn hạn chế, tình trạng "bẻ kèo" diễn ra phổ biến, thị trường đầu ra không ổn định, chính sách cho nông nghiệp xanh và nông nghiệp số chưa đồng bộ...
Thừa nhận thực tế này, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đánh giá, vẫn còn có những nút thắt từ thể chế chính sách, thủ tục hành chính và sự sẵn sàng cung ứng cho dòng vốn vào chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp xanh. Chính sách đảm bảo tín dụng của ngân hàng, trung gian bảo hiểm hay cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước - nhà nông và ngân hàng vẫn còn những rào cản đảm bảo mọi khâu đều theo chuỗi giá trị xanh, sạch và bền vững, số hoá.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, dù chiếm khoảng 23%-25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tín dụng nông nghiệp vẫn chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số và xanh hóa.
Một điểm nghẽn lớn là sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đặc biệt là bất động sản. Trong khi đó, phần lớn hoạt động sản xuất nông nghiệp lại diễn ra trên đất thuê trả tiền hằng năm, gây khó khăn cho việc định giá và chấp nhận tài sản bảo đảm.
Cũng theo ông Huy, ngoài ra, tín dụng còn mang tính phân tán, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị. Cùng với đó, tâm lý e ngại công nghệ và hạn chế về kỹ năng số của nông dân, hợp tác xã cũng làm chậm tiến trình chuyển đổi.
Yêu cầu đặt ra không chỉ là nới lỏng tín dụng, mà phải tái thiết toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm: dòng vốn, công nghệ, dữ liệu và thể chế.
"Dòng vốn phải chuyển từ việc cấp đơn lẻ sang cấp theo chuỗi giá trị. Về dữ liệu và công nghệ, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu và hệ sinh thái số nông nghiệp. Về thể chế, cần thiết lập cơ chế liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã cùng nông dân.

Do đó, ông Nguyễn Quang Huy đề xuất 9 giải pháp chiến lược nhằm phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp xanh.
Trước hết, cần phát triển mô hình tín dụng thông minh dựa trên dòng tiền và dữ liệu, thay thế dần cách tiếp cận truyền thống dựa vào tài sản bảo đảm. Song song đó là xây dựng hệ sinh thái số quốc gia, tích hợp dữ liệu nông nghiệp, môi trường và truy xuất nguồn gốc, hướng tới hình thành nền tảng dữ liệu lớn (big data) phục vụ quản trị và cấp tín dụng.
Một trụ cột quan trọng khác là phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy “bình dân học vụ số” trong nông nghiệp xanh thông qua các chương trình đào tạo bài bản, giúp người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận và sử dụng công nghệ. Đồng thời, cần thành lập các quỹ hỗ trợ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, vận hành thông qua hệ thống ngân hàng để bảo đảm dòng vốn được phân bổ hiệu quả.
Ở góc độ tổ chức sản xuất, cần đẩy mạnh tái cơ cấu theo hướng tích tụ đất đai, phát triển cánh đồng lớn, đồng thời tăng cường liên kết chuỗi giá trị, mở rộng kết nối với thị trường toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng cần chuyển đổi vai trò, từ bên cho vay đơn thuần sang đối tác chiến lược, tham gia sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và hợp tác xã, qua đó chủ động tư vấn và phòng ngừa rủi ro.
Đối với doanh nghiệp, cần chủ động chia sẻ trách nhiệm thẩm định với ngân hàng, lựa chọn đối tác sản xuất phù hợp và tham gia bảo lãnh một phần nhằm giảm thiểu rủi ro. Về phía người nông dân, việc tuân thủ quy trình sản xuất là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Song song đó, cần phát triển hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng xanh và bảo hiểm nông nghiệp, tạo “tấm đệm” an toàn cho dòng vốn, qua đó thúc đẩy tín dụng thực sự trở thành động lực dẫn dắt chuyển đổi nông nghiệp trong giai đoạn tới.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Long cho rằng, để phát huy hiệu quả của tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều bên. Trong đó, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích bảo hiểm nông nghiệp, xây dựng cơ sở dữ liệu sản xuất nông nghiệp, có cơ chế lãi suất ưu đãi với nông nghiệp xanh, nông nghiệp số...
Doanh nghiệp cũng mong muốn các ngân hàng cần chuyển từ tư duy "vay dựa trên tài sản thế chấp" sang "vay dựa trên dòng tiền và hiệu quả phương án sản xuất". Khi doanh nghiệp minh bạch được chuỗi liên kết từ đầu vào đến đầu ra, đó chính là "tài sản đảm bảo" bằng niềm tin cao nhất. Về phần mình, các doanh nghiệp cũng phải chủ động ứng dụng công nghệ số để truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất minh bạch, giúp ngân hàng dễ dàng kiểm soát dòng tiền và giảm thiểu rủi ro.