Từ một thị trường ngách, du lịch chăm sóc sức khỏe đang chuyển thành mô hình cho giá trị gia tăng cao của kinh tế du lịch toàn cầu.
Dự thảo Đề án “Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026 - 2030” vừa được Bộ Y tế công bố. Một trong những mục tiêu chính Việt Nam hướng đến hình thành chuỗi dịch vụ du lịch y tế Việt Nam chuyên nghiệp, an toàn, chất lượng cao. Qua đó, xây dựng uy tín và định hình thương hiệu du lịch chăm sóc sức khoẻ Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ở thời điểm này, theo TS Nguyễn Anh Tuấn - Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch, không phải là chúng ta có nên phát triển du lịch y tế (wellness) hay không mà cần định hướng “phát triển theo mô hình nào, quản lý bằng công cụ nào và ưu tiên nguồn lực vào đâu để đến năm 2030 hình thành được một phân khúc có chuẩn mực và thương hiệu”.

Nhận định này được lý giải bằng dữ liệu từ Tổ chức chăm sóc sức khoẻ toàn cầu Global Wellness Institute (GWI). Theo đó, chi tiêu du lịch chăm sóc sức khỏe toàn cầu đạt 893,9 tỷ USD năm 2024, tăng bình quân 6,4%/năm trong giai đoạn 2019-2024. Con số này được dự báo tăng lên khoảng 1.383,3 tỷ USD năm 2029.
Đáng chú ý, mức chi tiêu bình quân một chuyến du lịch y tế năm 2024 khoảng 721 USD, cao hơn hơn hai lần mức bình quân 340 USD của toàn bộ các chuyến du lịch toàn cầu. Đây không chỉ là loại hình phù hợp với nhu cầu mới mà còn là phân khúc có khả năng nâng cao giá trị thu được trên mỗi khách.
Tại Việt Nam, từ định hướng chính sách đến thực tiễn đều cho thấy tiềm năng phát triển du lịch y tế là rất lớn. Đặc biệt là những trải nghiệm sức khỏe có bản sắc mà những nơi khác không thể sao chép. TS Nguyễn Anh Tuấn cho biết: Việt Nam đã định hình những mô hình mang tính bản địa.
Lào Cai là ví dụ điển hình. Một số hợp tác xã, doanh nghiệp đã hình thành chuỗi từ vùng nguyên liệu - chế biến - dịch vụ tắm thuốc - sản phẩm quà tặng. Trong khi đó, Quảng Ninh lại thể hiện một cấu trúc sản phẩm khác với Yên Tử phát triển thiền, yoga, trị liệu tinh thần và thảo dược; Quang Hanh phát triển nghỉ dưỡng khoáng nóng cao cấp.
Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh chung, các chuyên gia đánh giá du lịch y tế vẫn phân tán. Sản phẩm du lịch chăm sóc sức khoẻ còn ít và thiếu đa dạng. Nhiều cơ sở quy mô vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó là thiếu nhân sự quản lý cao cấp và kỹ thuật viên. Các hoạt động y tế, du lịch, tài nguyên môi trường và đào tạo còn vận hành riêng lẻ; xúc tiến thị trường chưa bài bản. Nói cách khác, Việt Nam có nhiều “điểm sáng” nhưng chưa có một “hệ sinh thái” đủ chặt để tạo thương hiệu quốc gia.
Từ hoạt động thực tiễn, bà Đỗ Thị Loan Phượng - công ty CP Nam Dược Đại Phú An đề cập đến một số điểm nghẽn trong phát triển du lịch y tế. Trước hết, từ cơ chế chính sách.

Theo lãnh đạo công ty CP Nam Dược Đại Phú An, y - dược là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, không phải cơ sở nào cũng có sẵn hoặc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chuyên ngành. Các cơ sở y tế, nhất là y học cổ truyền nhỏ lẻ tuy có tri thức nhưng lại hạn chế nguồn lực để đầu tư du lịch với yêu cầu cao về cơ sở vật chất và dịch vụ. Ngược lại, nhà đầu tư du lịch có nguồn lực nhưng không dễ tạo chiều sâu chuyên môn cho mô hình chăm sóc sức khỏe.
Việc thiếu chuẩn chung cho du lịch chăm sóc sức khỏe cũng khiến doanh nghiệp, cơ quan quản lý, du khách có thể gặp khó khăn. Đặc biệt, nhân lực làm việc trong lĩnh vực này khá đặc thù với những yêu cầu cần kiến thức đồng thời về du lịch, dịch vụ, chăm sóc khách hàng, kiến thức sức khỏe, văn hóa, an toàn. Nhóm nhân lực mới vì thế cần được đào tạo bài bản và chuyên biệt…
Từ góc độ quản lý, đại diện Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội đồng tình với nhận định trên. Là địa phương có nhiều lợi thế phát triển du lịch y tế, đại diện Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội đề cập đến yêu cầu cần hoàn thiện cơ chế liên kết giữa du lịch - y tế với một số lĩnh vực khác và doanh nghiệp để cùng xác định sản phẩm, tiêu chí, quy trình phục vụ, thị trường mục tiêu và phương thức quảng bá. Ngoài ra, cần xây dựng tiêu chí và chuẩn hóa sản phẩm giúp doanh nghiệp định vị sản phẩm, cơ quan quản lý có cơ sở kiểm tra và khách du lịch có thông tin minh bạch khi lựa chọn; phát triển nhân lực...
Nhìn từ thị trường Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh đến yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm du lịch y tế thông qua việc phát triển sản phẩm quốc gia dựa trên lợi thế, bản sắc sức khỏe Việt Nam mà đối thủ khó sao chép như y học cổ truyền; thiền, yoga, đi bộ, trekking, ẩm thực dưỡng sinh, thực phẩm địa phương… Mỗi dòng sản phẩm cần được thiết kế thành chương trình có mục tiêu và thời lượng rõ ràng thay cho bán lẻ từng dịch vụ nhằm kiểm soát chất lượng, định giá theo giá trị.
TS Nguyễn Anh Tuấn lưu ý, khách du lịch chăm sóc sức khỏe có xu hướng chi tiêu cao, lưu trú dài hơn. Việc quyết định điểm đến dựa vào giá, chất lượng, môi trường, khả năng tiếp cận, uy tín chuyên gia và mức độ dễ dàng tiếp cận thông tin. Vì vậy, xúc tiến phải đi theo phân khúc chứ không quảng bá đại trà.