Xuất nhập khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng với tăng trưởng. Bài toán hiện nay là nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng giá trị giữ lại và củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Để góp phần hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, hoạt động xuất nhập khẩu cần tiếp tục phát huy vai trò là động lực then chốt.

Theo đó, Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2026 đã đặt mục tiêu, tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 15-16% so với năm 2025.
Các chuyên gia nhận định, kim ngạch xuất, nhập khẩu đã tăng trưởng mạnh mẽ nhiều năm qua, liên tục đạt các kỷ lục mới và là một trong các động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế đất nước. Cụ thể, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,1 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, cán cân thương mại thặng dư 20 tỷ USD, đánh dấu 10 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016.
Theo ông Cấn Văn Lực, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 - 16% năm 2026 mà Chính phủ giao cho ngành công thương là rất thách thức, khi dự báo hiện nay mới chỉ nghiêng về kịch bản tăng trưởng 12 - 14%.
Bởi trên thực tế, các tổ chức lớn như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới và IMF đều có chung nhận định, tăng trưởng thương mại toàn cầu trong thời gian tới sẽ thấp hơn đáng kể so với năm 2025.
Theo vị chuyên gia, không chỉ chịu sức ép từ bên ngoài, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cũng đang bộc lộ những điểm cần suy ngẫm. Một số nhóm hàng công nghệ cao như điện tử, điện máy tiếp tục gia tăng tỷ trọng, trong khi ngành truyền thống như dệt may, da giày dù vẫn tăng trưởng nhưng đang có dấu hiệu chậm lại về thị phần.
Đáng chú ý, sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường trọng điểm khiến dư địa ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam trở nên hạn hẹp hơn khi thị trường này biến động. Xuất nhập khẩu dịch vụ đang là điểm nghẽn trong đóng góp của khu vực ngoại thương đối với tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Cấn Văn Lực, trong khi xuất khẩu hàng hóa nhiều năm liên tục duy trì thặng dư, cán cân thương mại dịch vụ của Việt Nam vẫn ở trạng thái âm, qua đó làm suy giảm đáng kể phần đóng góp ròng của xuất nhập khẩu vào tăng trưởng tổng ngân sách quốc nội (GDP).
"Có năm cán cân thương mại hàng hóa thặng dư tới 20 tỷ USD nhưng dịch vụ lại âm khoảng 10 tỷ USD nên thực chất phần đóng góp ròng cho tăng trưởng chỉ còn một nửa", ông Cấn Văn Lực phân tích.
Trong cơ cấu xuất khẩu dịch vụ, du lịch và vận tải chiếm tới 80% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Du lịch tăng trưởng về lượng khách nhưng chi tiêu, thời gian lưu trú và tỷ lệ quay lại thấp; trong khi lĩnh vực vận tải, logistics lại phụ thuộc lớn vào doanh nghiệp nước ngoài, khiến Việt Nam phải chi trả chi phí nhập khẩu dịch vụ vận tải ở mức cao. Bên cạnh đó, sự lệch pha giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang tác động trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng xuất khẩu, đưa nghị quyết thành động.
Đặc biệt, khu vực FDI ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp nội địa vẫn hạn chế về công nghiệp hỗ trợ, trình độ công nghệ và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Nếu năng lực sản xuất trong nước không được cải thiện, tình trạng xuất khẩu tăng nhanh nhưng giá trị giữ lại thấp sẽ còn kéo dài.

Ông Cấn Văn Lực cho rằng, thúc đẩy xuất nhập khẩu trong giai đoạn tới không thể chỉ dừng ở mục tiêu tăng kim ngạch mà cần chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng tăng trưởng; đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa chính sách thương mại, xúc tiến xuất khẩu, phát triển logistics, tài chính hỗ trợ và nâng cao chất lượng thể chế và khâu tổ chức thực thi.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và thương mại toàn cầu bước vào giai đoạn điều chỉnh, xuất nhập khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng với tăng trưởng của Việt Nam, song yêu cầu đặt ra đã khác trước. Không chỉ là mở rộng quy mô hay gia tăng kim ngạch, bài toán hiện nay là nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng giá trị giữ lại và củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Để xuất nhập khẩu tiếp tục phát huy vai trò động lực, theo ông Cấn Văn Lực cần cách tiếp cận toàn diện hơn. Trong đó, kết hợp hài hòa giữa phát triển xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước, cải thiện chất lượng thể chế và hiệu quả tổ chức thực thi. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà là nền tảng quan trọng để xuất nhập khẩu Việt Nam phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Theo đó, về chính sách thương mại và xúc tiến xuất khẩu, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh việc giữ vững "mặt trận" xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và tận dụng hiệu quả các FTA, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, nhất là logistics, du lịch và tiếp tục đa dạng hóa. Nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu quốc gia; đẩy mạnh hợp tác công - tư trong xúc tiến và phát triển thị trường; đẩy mạnh chuyển đổi số trong thương mại quốc tế; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử các sàn giao dịch trực tuyến B2B…để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận thị trường hiệu quả hơn; ưu tiên đầu tư phát triển logistics, cơ sở hạ tầng theo hướng xanh hóa, bền vững.
Về các giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu, ông Lực cho rằng, cần mở rộng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nội địa, thiết lập các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV xuất khẩu...; ban hành gói tín dụng ưu đãi và thiết kế các chính sách, sản phẩm tín dụng xuất khẩu phù hợp; đẩy mạnh tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ chuỗi cung ứng; triển khai các gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, chuyển đổi quy trình sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và thương mại xanh; hoàn thiện chính sách thuế và hoàn thuế thúc đẩy xuất khẩu; thành lập cơ chế bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu và ngân hàng trước rủi ro...
Về nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp xuất khẩu, chuyên gia này nhấn mạnh cần nâng cao giá trị gia tăng và chuyển đổi sản xuất sang chiều sâu, chế biến sâu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu; có kế hoạch, chiến lược tăng tính tự chủ, tự cường, tăng tỷ lệ nội địa hóa, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu; ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghệ chiến lược; phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và xây dựng thương hiệu, triển khai chương trình Thương hiệu quốc gia, hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng và bảo vệ thương hiệu ở thị trường nước ngoài; tập trung nguồn lực phát triển các doanh nghiệp lớn trong các ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn, AI và năng lượng xanh…., kết nối nhiều hơn với DNNVV.