Để bứt phá tiến độ giải ngân đầu tư công năm 2026, Quảng Trị cần tháo gỡ điểm nghẽn vật liệu xây dựng thông qua thủ tục cấp phép mỏ minh bạch và quản lý giá sát thị trường.

Đầu tư công tại Quảng Trị đang bước vào giai đoạn nước rút với hàng loạt dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, năng lượng và đô thị quy mô lớn. Đến ngày 1/10, tỉnh Quảng Trị đã giải ngân khoảng 49,96% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, còn hơn 3.294 tỉ đồng cần giải ngân trong 3 tháng cuối năm.
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Vương Quốc Tuấn yêu cầu giao KPI cho từng cán bộ, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm căn cứ đánh giá cán bộ và xem xét thay thế nhân sự. Yêu cầu này được đưa ra trong bối cảnh địa phương cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và tiến độ các dự án để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Để đạt được mục tiêu đề ra đối với các dự án xây dựng, nguồn cung vật liệu xây dựng (VLXD) đóng vai trò quan trọng. Theo thống kê, nhu cầu riêng năm 2026 phục vụ các dự án trên địa bàn tỉnh cần khoảng 1,76 triệu m³ đá xây dựng và 4,77 triệu m³ đất san lấp; con số này trong năm 2027 dự kiến tiếp tục duy trì ở mức rất cao.
Theo Sở Công Thương Quảng Trị, trên địa bàn tỉnh đã khoanh định 224 khu vực mỏ đá xây dựng và đất san lấp theo quy hoạch được phê duyệt, với tổng diện tích khoảng 3.491,99 ha và tài nguyên dự báo khoảng 1.281,393 triệu m³.
Về mặt lý thuyết, tổng trữ lượng đã quy hoạch và cấp phép của địa phương hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu này. Thế nhưng, tại các công trường, áp lực thiếu hụt đất đắp, đá cấp phối và cát vẫn luôn hiện hữu.
Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật tỉnh - hiện quản lý 32 dự án với tổng vốn khoảng 3.000 tỉ đồng, đến hết tháng 9, tỉ lệ giải ngân đạt 46%. Riêng phần vốn còn lại chủ yếu tập trung ở các công trình giao thông, với nhu cầu khoảng 1 triệu m³ đất đắp, 600.000 m³ đá và 200.000 m³ cát.
Sự chủ động của lãnh đạo tỉnh Quảng Trị trong việc rà soát và yêu cầu tháo gỡ khó khăn cho các mỏ là tín hiệu rất tích cực. Đã có 12 doanh nghiệp đăng ký phương án nâng công suất các mỏ VLXD thêm gần 800.000 m³/năm, như Công ty TNHH MTV Tràng An đăng ký nâng thêm 113.000 m³ đá/năm; Công ty CP Sản xuất vật liệu và Xây dựng công trình 405 đăng ký tăng 50.000 m³ đá/năm.
Doanh nghiệp rất cần một cơ chế công khai, minh bạch thông tin về quy hoạch mỏ, quy trình xử lý hồ sơ và tiêu chí lựa chọn, cho phép nâng công suất. Điều này giúp ngăn chặn cơ chế “xin - cho”, giảm chi phí tuân thủ và tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Một “nút thắt” lớn khác ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của doanh nghiệp xây dựng là bảng giá vật liệu xây dựng do cơ quan quản lý nhà nước công bố. Thời gian qua, biến động giá xăng, dầu cùng chi phí vận tải tăng cao đã đẩy giá vật liệu thực tế tại chân công trình lên đáng kể. Tuy nhiên, đơn giá công bố định kỳ của Liên Sở Xây dựng - Tài chính thường có độ trễ, chưa phản ánh kịp thời nhịp đập thị trường.
Ông Võ Phong Luân, Phó Giám đốc BQL dự án Đầu tư xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật tỉnh cho biết: “Chúng tôi đã báo cáo lãnh đạo tỉnh, đề nghị sớm có giải pháp rà soát cụ thể nhằm bảo đảm nguồn cung, tạo điều kiện cho chủ đầu tư, nhà thầu tiếp cận vật liệu với giá thành hợp lý, qua đó đáp ứng yêu cầu về tiến độ và giải ngân”.
Tại cuộc họp mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Hoàng Phương đề nghị Sở Công Thương chủ trì rà soát, làm rõ quy trình, công suất khai thác và điều kiện để xem xét việc mở rộng các mỏ theo quy định. Đồng thời, rà soát hồ sơ của các doanh nghiệp đang khai thác mỏ vật liệu xây dựng; trên cơ sở nhu cầu sử dụng vật liệu của các ban quản lý dự án, xem xét khả năng khai thác, cung ứng của từng doanh nghiệp để có phương án xử lý, tháo gỡ phù hợp.