Để các chính sách thực sự đi vào đời sống, Chủ tịch VCCI Hồ Sỹ Hùng cho rằng, dự thảo Luật Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được gia cố với những giải pháp mạnh mẽ, thực chất và khả thi hơn.
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 17/10, Quốc hội tiến hành thảo luận tại tổ về Dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập.
Tham gia góp ý tại Tổ 1, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hồ Sỹ Hùng, đại biểu Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đã tham gia góp ý về Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập.

Với dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng bày tỏ sự đồng tình với nỗ lực đổi mới toàn diện khung khổ pháp lý từ phía cơ quan soạn thảo, tuy nhiên, để các chính sách thực sự đi vào đời sống, trở thành bệ phóng vững chắc cho khu vực kinh tế tư nhân, dự thảo luật cần được mổ xẻ, gia cố với những giải pháp mạnh mẽ, thực chất và khả thi hơn.
Theo Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng, một trong những mục tiêu cốt lõi của lần sửa đổi này là tập trung nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm. Mặc dù dự thảo đã đưa ra 11 nhóm chính sách chung, song nếu chỉ dừng lại ở diện rộng thì bản chất vẫn là hỗ trợ dàn trải, thiếu tính đột phá.
Thực tiễn nền kinh tế hiện nay đang đối mặt với sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng doanh nghiệp quy mô vừa – mắt xích then chốt kết nối các chuỗi cung ứng và cụm liên kết ngành. Vì vậy, chính sách hỗ trợ phải đặt trọng tâm vào việc thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ phát triển thành quy mô vừa. Song song đó, nguồn lực hỗ trợ cần ưu tiên tuyệt đối cho các ngành hàng nền tảng, có ý nghĩa then chốt như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo.
Đặc biệt, sự hỗ trợ không thể chỉ mang tính cơ học mà phải gắn liền với việc hình thành các chuỗi giá trị và cụm liên kết ngành (cả liên kết dọc theo chuỗi và liên kết ngang theo cụm). Doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn hạn chế về nội lực, nếu đứng riêng lẻ sẽ rất khó cạnh tranh; chỉ khi được kết nối vào hệ sinh thái chuỗi cung ứng đồng bộ, doanh nghiệp mới có đủ sức chống chịu và bứt phá.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng cũng cho rằng, mong muốn phân loại hỗ trợ theo quy mô và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp là định hướng rất trúng. Dẫu vậy, luật cần tiêu chí hóa tường minh: giai đoạn nào cần trợ lực gì, nhóm quy mô nào được ưu tiên gói hỗ trợ nào, tránh tình trạng quy định trừu tượng gây lúng túng khi thực thi.
Dẫn nội dung quán triệt Nghị quyết 68-NQ/TW và Thông báo số 11-TB/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế pháp luật, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng bày tỏ, việc sửa đổi luật lần này phải tập trung tháo gỡ triệt để các “điểm nghẽn” bức thiết, đặc biệt là rào cản tiếp cận tín dụng, đổi mới công nghệ và chi phí tuân thủ. Thế nhưng, dự thảo vẫn cho thấy nhiều cơ chế ưu đãi vẫn còn mang tính hình thức khi bị trói buộc bởi cụm từ quen thuộc “theo quy định của pháp luật”.

“Đơn cử, tại Điều 8 về tiếp cận vốn, chính sách mới chỉ dừng ở mức “khuyến khích” các tổ chức tín dụng và yêu cầu thực hiện “theo quy định của ngân hàng”, chưa tạo ra hành lang tài chính thực sự khác biệt, thông thoáng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hay như tại Điều 9 về thuế, kế toán, dù đem đến kỳ vọng về chế độ kế toán và kê khai thuế đơn giản cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn chỉ dẫn chiếu chung chung về luật thuế hiện hành. Và tại Điều 21 về các chính sách hỗ trợ lãi suất, ưu đãi thuế, khấu hao nhanh tài sản, hỗ trợ chi phí tư vấn tiêu chuẩn ESG, hầu hết các khoản đều khép lại bằng quy định thực hiện “theo quy định của pháp luật”.
Nếu tất cả ưu đãi đều dẫn chiếu về các luật chuyên ngành vốn dĩ đang tồn tại nhiều rào cản, thì tính chất “đặc biệt, vượt trội” của Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ hoàn toàn bị triệt tiêu. Vì vậy, luật cần quy định rõ ràng tỉ lệ hỗ trợ, điều kiện thụ hưởng minh bạch, mang tính khả thi trực tiếp thay vì đẩy khó khăn về phía các văn bản dưới luật”, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng góp ý.
Cùng với nội dung đã nêu, liên quan đến chủ trương chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, lấy “kết quả đầu ra” làm thước đo, theo Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng, đây là bước tiến lớn, phù hợp với xu thế quản trị hiện đại. Tuy nhiên, quy định tại Điều 31 lại đang bộc lộ mâu thuẫn khi vừa yêu cầu kiểm tra dựa trên kết quả đầu ra, lại vừa đòi hỏi kiểm tra việc thực hiện “trình tự, thủ tục” và việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng kinh phí.
Việc tích hợp cả hai phương thức quản lý này dễ tạo ra gánh nặng kép cho doanh nghiệp và cơ quan thực thi. Đã lấy đầu ra làm mục tiêu đánh giá thì phương thức thực hiện phải linh hoạt; nếu tiếp tục soi xét từng bước quy trình hành chính cứng nhắc, chính sách sẽ tự triệt tiêu tính năng động, sáng tạo.
“Tương tự, tại khoản 4 Điều 5 về huy động nguồn lực ngoài ngân sách, dự thảo cho phép sử dụng nguồn tài trợ theo quy định của bên tài trợ nhưng lại kèm điều kiện “không được trái quy định của pháp luật”. Sự ràng buộc nửa vời này sẽ làm mất đi tính chủ động, linh hoạt của nguồn vốn xã hội hóa, gây e dè cho các nhà tài trợ quốc tế khi muốn rót vốn hỗ trợ các dự án công nghệ cao hay dịch vụ chất lượng cao”, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng góp ý.
Về tổ chức thực hiện, Theo Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng, Điều 23 dự thảo quy định các bộ, ngành, địa phương phải “trình cấp có thẩm quyền” ban hành chương trình hỗ trợ. Quy định này làm phát sinh tầng nấc thủ tục hành chính không cần thiết.
Vì vậy, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng đề xuất, luật chỉ nên ban hành khung tiêu chuẩn, mục tiêu định lượng; sau đó phân cấp, trao quyền tự chủ tối đa cho các bộ và địa phương căn cứ tình hình thực tiễn để ban hành và triển khai chương trình. Đồng thời, khái niệm “hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa” cần được định hình với mục tiêu cụ thể, tránh đầu tư dàn trải hạ tầng gây lãng phí nguồn lực công.
Đối với các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ (Điều 27 và Điều 28), theo Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng, dự thảo đang bộc lộ góc nhìn tương đối xơ cứng khi dường như chỉ công nhận những tổ chức “chuyên trách” hoặc “đại diện” riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi, trên thực tế, cần xây dựng cơ chế mở: bất kỳ tổ chức, cá nhân, hiệp hội ngành nghề nào có đủ năng lực chuyên môn, cung cấp dịch vụ chất lượng đều được quyền tham gia vào mạng lưới hỗ trợ - Có như vậy mới tận dụng tối đa nguồn lực xã hội và tính chuyên nghiệp của thị trường.
“Việc sửa đổi hệ thống pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp chỉ thực sự thành công khi rũ bỏ được tư duy quản lý hành chính cũ kỹ. Chỉ có các giải pháp cụ thể, dũng cảm trao quyền, rạch ròi trách nhiệm và thực tâm tháo gỡ rào cản mới có thể tạo ra xung lực mới, tiếp sức cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước”, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng bày tỏ.
Liên quan đến Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, tham gia góp ý, Chủ tịch Hồ Sỹ Hùng cho rằng, việc bãi bỏ các điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán để chuyển sang cơ chế hậu kiểm là bước đi phù hợp với định hướng cải cách thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, dịch vụ kế toán mang tính pháp lý rất đặc thù, bởi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa do năng lực nội tại hạn chế nên đều có nhu cầu thuê dịch vụ kế toán bên ngoài. Trong khi, bất cập hiện nay là doanh nghiệp bỏ tiền mua dịch vụ của đơn vị có chuyên môn đã được Nhà nước công nhận, nhưng khi xảy ra sai sót pháp lý thì chủ doanh nghiệp vẫn phải gánh toàn bộ trách nhiệm trước pháp luật, trong khi bên cung cấp dịch vụ cũng chịu chế tài hậu kiểm.
Tình trạng “trách nhiệm kép” này đòi hỏi Luật Kế toán phải phân định thật rạch ròi: Khi doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ của một đơn vị kế toán hợp pháp, trách nhiệm pháp lý đối với tính chính xác, trung thực của hồ sơ sổ sách kế toán cần được chuyển giao tương xứng sang đơn vị cung ứng dịch vụ. Làm rõ ranh giới này không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người chủ doanh nghiệp mà còn buộc các tổ chức dịch vụ kế toán phải nâng cao tính chuẩn mực, chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp.