Chính trị

Khơi dòng thể chế (Bài 1): ​ “Kim chỉ nam” xuyên suốt

Gia Nguyễn 19/02/2026 11:00

Trong bối cảnh đất nước bước vào những thời cơ và vận hội mới, việc đẩy mạnh đột phá về thể chế, tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trong tiến trình phát triển đất nước, thể chế luôn được xem là “xương sống” của quản trị quốc gia. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt nhằm tháo gỡ những rào cản thể chế, đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật.

khoi-dong-the-che-1.11.2.1.jpg
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt nhằm tháo gỡ những rào cản thể chế, đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật - Ảnh minh họa: ITN

“Thông điệp” mạnh mẽ

Trong tiến trình đổi mới, Đảng ta luôn coi hoàn thiện thể chế là ưu tiên, là “đột phá của đột phá”, nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII đã đặt hoàn thiện đồng bộ thể chế là đột phá chiến lược ở vị trí đầu tiên và quan trọng nhất, bên cạnh phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đột phá mạnh mẽ về thể chế, đổi mới tư duy xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật để tháo gỡ các “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước được đánh giá là cấp thiết hơn bao giờ hết.

Theo đó, nếu Đại hội XIII nói đến thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì Nghị quyết Đại hội XIV xác định thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; tập trung vào trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật, tháo gỡ các “điểm nghẽn”, các cản trở trong quá trình phát triển, tạo môi trường không gian pháp lý đồng hành, kiến tạo, thúc đẩy sự phát triển, chuyển từ tư duy “quản lý hành chính” sang tư duy “quản trị quốc gia” để phát triển.

Đáng nói, không chỉ tháo gỡ “điểm nghẽn”, Nghị quyết Đại hội XIV còn tập trung thúc đẩy các thể chế mới cho đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp…

Nhìn nhận về nội dung này, không ít ý kiến cho hay, việc đặt hoàn thiện thể chế phát triển lên vị trí đột phá đầu tiên là một lựa chọn có cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bởi, thể chế không chỉ là luật pháp, mà là toàn bộ cách thức mà quyền lực được phân bổ và vận hành; là cách Nhà nước tương tác với người dân và doanh nghiệp; là môi trường quyết định việc các nguồn lực có được giải phóng hay bị kìm hãm.

Nếu thể chế không thông thì nguồn nhân lực khó phát huy được hiệu quả, hạ tầng khó phát huy hết giá trị. Ngược lại, khi thể chế thông suốt, chi phí phát triển sẽ giảm, niềm tin xã hội được củng cố và động lực đổi mới sẽ lan tỏa mạnh mẽ.

Trên cơ sở định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các chuyên gia, nhà khoa học, người dân và cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng, công tác xây dựng và thực thi pháp luật trong thời gian tới sẽ đổi mới thực chất hơn, lấy hiệu quả thực thi làm thước đo chủ yếu. Pháp luật sẽ trở thành công cụ quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả; là nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm tốt hơn quyền của Nhân dân.

khoi-dong-the-che-1.11.2.2.jpg
Xây dựng và hoàn thiện thể chế được cho là "kim chỉ nam" xuyên suốt của Đảng và Nhà nước trong những năm qua - Ảnh minh họa: ITN

Kiến tạo môi trường thuận lợi cho phát triển

Phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm, khi đó là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: “Trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn…”.

Theo Tổng Bí thư, đây là trách nhiệm của hệ thống chính trị, nhưng trọng trách rất lớn đặt lên vai của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội và của Chính phủ.

Tinh thần này đã nhanh chóng thẩm thấu và thay đổi căn bản tư duy xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam và đã đạt được những kết quả quan trọng.

Thực tế cho thấy, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, sau 19 Kỳ họp, bao gồm 9 Kỳ họp bất thường (không thường lệ) và 10 Kỳ họp thường lệ, Quốc hội đã hoàn thành hơn 205 nhiệm vụ lập pháp, vượt 33% so với định hướng ban đầu.

Trong đó, chỉ riêng tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã xem xét, thảo luận, biểu quyết thông qua 51 Luật, 39 Nghị quyết, trong đó có 8 Nghị quyết quy phạm pháp luật; chiếm gần 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ. Các Luật, Nghị quyết mà Quốc hội đã thông qua không chỉ kịp thời tháo gỡ các “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; mà còn kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho giai đoạn mới, giải phóng các nguồn lực cho phát triển đất nước.

Về phía Chính phủ, trong nhiệm kỳ cũng đã hoàn thiện thể chế với quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Thống kê cho thấy, số Nghị quyết mà Chính phủ đã ban hành nhiều gấp 2 lần so với nhiệm kỳ trước.

Đồng thời, Chính phủ đã ban hành 930 Nghị định, tạo cơ sở cho việc triển khai đầy đủ, đồng bộ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như các Luật mà Quốc hội đã thông qua.

Việc tập trung cho khâu đột phá về thể chế đã bước đầu xây dựng được môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi để phát huy mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Đại biểu Phan Thị Mỹ Dung - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh đánh giá, đến nay, hệ thống pháp luật của chúng ta đã được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, công khai, minh bạch; quy trình lập pháp được đổi mới, dân chủ và khoa học hơn. Hoạt động tham vấn xã hội được mở rộng; chất lượng nhiều văn bản quy phạm được nâng cao, góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, bảo đảm an sinh xã hội, quyền con người và quyền công dân.

Theo đại biểu Dung, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng, tăng tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, thúc đẩy cải cách thể chế gắn với cải cách tư pháp và hành chính, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan xây dựng, thi hành và giám sát pháp luật.

Đồng quan điểm, nhiều ý kiến cũng cho hay, Nghị quyết số 66-NQ/TW đã tạo ra một cuộc “đổi mới tư duy” sâu sắc trong toàn bộ chu trình chính sách, từ khâu đề xuất, xây dựng đến tổ chức thực hiện và giám sát pháp luật. Trong đó, tư duy xây dựng pháp luật đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ “quản lý” sang “kiến tạo”, đã làm rõ hơn yêu cầu gắn xây dựng pháp luật với thực tiễn điều hành và phát triển; thể hiện rõ hơn tư duy “giám sát để thúc đẩy cải cách” trong hoạt động giám sát…

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Khơi dòng thể chế (Bài 1): ​ “Kim chỉ nam” xuyên suốt
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO