Để khơi thông dòng vốn xanh, các chuyên gia cho rằng thị trường không thể chỉ dựa vào một công cụ duy nhất.
Cùng với nguồn vốn xanh trên toàn cầu vẫn đang được thúc đẩy mở rộng, xu hướng các nhà đầu tư nhìn chung cũng đang tích cực "săn lùng" các dự án xanh khó rõ ràng.
Thống kê củaTổ chức Tài chính quốc tế (IFC, thuộc Ngân hàng Thế giới -WB) cho biết, cùng với tài chính khí hậu, tài chính xanh lam đang mở ra dư địa mới.

Đến tháng 6/2025, quy mô phát hành lũy kế của thị trường trái phiếu xanh lam toàn cầu đạt khoảng 15,25 tỷ USD, tăng hơn 800 lần so với giai đoạn đầu. Riêng Đông Nam Á được ước tính có khoảng trống tài chính khoảng 2.100 tỷ USD cho kinh tế biển, đặc biệt tại các lĩnh vực phát triển ven biển và hạ tầng kiểm soát ô nhiễm.
Tài chính xanh lam tại Việt Nam cũng đang được kỳ vọng về dư địa và triển vọng khai thác, đóng góp cho quá trình chuyển đổi lẫn nguồn vốn xanh lam thực tế. PGS TS Nguyễn Hữu Huân, Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC) khẳng định. Ông Huân cũng cho biết cơ quan này đang có những bước sẵn sàng về hạ tầng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đón đầu cơ hội.
Với vốn xanh tín dụng, tại Việt Nam, số liệu ước tính của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đến cuối 2025 ghi nhận, dư nợ tín dụng xanh đạt gần 780.000 tỷ đồng, tăng khoảng 14,62% so với cùng kỳ và chiếm 4,19% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng xanh duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 22-23% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025, trong đó các ngân hàng thương mại cung cấp khoảng 88% tổng dư nợ. Các ngân hàng thương mại mặt khác cũng đang rộng mở cơ hội tiếp cận vốn xanh quốc tế để tái tài trợ, với nguồn vốn ổn định cho vay trung và dài hạn.
Tất nhiên, quá trình giải ngân nguồn vốn này nhìn từ góc độ ngân hàng và doanh nghiệp luôn đòi hỏi dự án xanh thật, quy trình thẩm định chặt chẽ. Việc tiếp cận để được giải ngân vì vậy không thể đại trà. Đây cũng là cách thức để các ngân hàng ứng phó với các trường hợp "giả xanh" (green washing) nhằm đảm bảo dòng vốn xanh đi đúng địa chỉ.
Những nét chung của dòng vốn xanh từ quốc tế đến Việt Nam là một phần cơ sở để chuyên gia của IFC đặt quan điểm vì sao vốn xanh phân bổ không đồng đều ở các thị trường. Điều này cũng hàm ý một gợi mở về bài toán của Việt Nam không đơn thuần là "đi tìm vốn", mà là làm thế nào để nâng cao năng lực hấp thụ vốn, tạo ra một môi trường đủ sức hấp dẫn để điều hướng dòng chảy của hàng nghìn tỷ USD vào thị trường trong nước.
Để khơi thông dòng vốn xanh, các chuyên gia cho rằng thị trường không thể chỉ dựa vào một công cụ duy nhất. Sự tiến hóa của tài chính bền vững đòi hỏi một hệ sinh thái đa dạng, bao gồm tài chính chuyển đổi, tài chính xanh dương, và các trái phiếu xã hội. Thực tiễn thị trường cho thấy cần thiết lập "ngôn ngữ chung" thông qua Danh mục phân loại xanh (Taxonomy) theo chuyên gia IFC. Và Việt Nam rất may mắn đã thiết lập điều kiện nền tảng quan trọng này.
“Dòng vốn quốc tế từ Tokyo, Singapore hay New York không thể chảy vào Việt Nam nếu thiếu đi một quy chuẩn chung để định nghĩa "thế nào là xanh". Việc Việt Nam tiến tới phê duyệt Danh mục phân loại xanh quốc gia là một bước ngoặt. Dưới góc nhìn của nhà đầu tư, hệ thống phân loại không phải là một "gánh nặng thủ tục hành chính", mà là "công cụ kiến tạo thị trường". Nó giải quyết ba mục tiêu tối thượng: Cải thiện sự rõ ràng, gia tăng tính minh bạch, và quan trọng nhất là xây dựng niềm tin”, ông Paul Xavier, cán bộ của IFC nói.
Cùng với đó, ông cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi tư duy từ "Phần bù giá xanh" (Greenium) sang giảm thiểu chi phí giao dịch. Từng có quan điểm cho rằng tài chính xanh thành công nhờ chi phí vốn rẻ hơn. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ 30 thị trường mới nổi của IFC chỉ ra rằng, lợi thế về giá không còn nhất quán.
Thay vào đó, giải pháp huy động hiệu quả đến từ việc tháo gỡ các rào cản. Kinh nghiệm từ Malaysia (hỗ trợ chi phí đánh giá độc lập), Thái Lan (giảm phí pháp lý) hay Indonesia (đưa ra các ưu đãi phát hành) là minh chứng cho việc giảm "ma sát" thị trường sẽ kích thích thanh khoản tốt hơn.
Xu hướng mở rộng dư địa sang tài chính chuyển đổi và tài chính xanh dương cũng được các chuyên gia khuyến nghị và như đề cập một phần ở trên. Bởi lẽ rõ ràng với bức tranh và bước chuyển của nền kinh tế đang hoàn thiện cơ sở hạ tầng như hiện tại, Việt Nam không thể ngừng cấp vốn cho các ngành công nghiệp nặng như thép, xi măng, hóa chất hay giao thông – những trụ cột của nền kinh tế thực. Tài chính chuyển đổi vì vậy sẽ là chìa khóa để giúp các ngành "khó giảm phát thải" (hard-to-abate) này chuyển dịch dần sang nền kinh tế ít carbon, thông qua các kế hoạch chuyển đổi có thể đo lường.
Điều đặc biệt là Việt Nam hiện không chỉ có sàn giao dịch carbon thí điểm đã bước đầu đi vào vận hành và dù còn nhiều vấn đề để cải thiện và phát triển, đây đã là một cột mốc đáng chú ý. Cùng với đó, còn có sự vào cuộc của doanh nghiệp, các thương vụ tiên phong như đợt phát hành trái phiếu xanh dương của SeABank (với sự hỗ trợ của IFC và ADB) chứng minh rằng các công cụ tài chính chủ đề mới đã sẵn sàng thực chiến tại Việt Nam.
Hay như PGS TS Nguyễn Hữu Huân tiết lộ, việc phát triển hệ sinh thái tài chính hàng hải chính (IMFC) tại VIFC-HCMC đang được kỳ vọng là huyết mạch kết nối tài chính quốc tế với nền kinh tế hàng hải toàn cầu. Hai yếu tố này tạo thành một vòng lặp cộng sinh chặt chẽ: Trung tâm Hàng hải Quốc tế là cỗ máy tạo ra dòng tài sản, hàng hóa và dòng tiền thực (thông qua đội tàu, vận hành cảng biển, logistics, bảo hiểm, pháp lý và dữ liệu)...
Từ đây, bài toán vốn cho chuyển đổi xanh được mở rộng đáng kể.