Thông báo số 475/TB-TTCP ngày 27/2/2026 kết luận thanh tra việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG).
Theo Thông báo, ngày 13/02/2026, Tổng Thanh tra Chính phủ đã ban hành Kết luận thanh tra số 57/KL-TTCP việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam. Thực hiện quy định của Luật Thanh tra năm 2025, Tổng Thanh tra Chính phủ thông báo Kết luận thanh tra.
Kết luận nêu rõ, việc ban hành một số quy chế về quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước tại Tập đoàn trong giai đoạn 2018-2024: Công ty mẹ - Tập đoàn chưa ban hành Quy chế quản lý tiền mặt, tiền gửi theo quy định tại Quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn; Có 03/06 đơn vị được thanh tra chưa xây dựng, sửa đổi, bổ sung, ban hành Quy chế hoạt động của Người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp khác theo quy định của Tập đoàn; Có 04/06 đơn vị được thanh tra chưa xây dựng, sửa đổi, bổ sung, ban hành Quy chế giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động đối với các đơn vị do Công ty sở hữu 100% vốn điều lệ và các công ty có vốn đầu tư theo quy định của Tập đoàn; Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Tập đoàn chậm ban hành/không ban hành Nghị quyết, Văn bản định hướng Suất đầu tư tối đa KTCB do các đơn vị thành viên của Tập đoàn làm chủ đầu tư theo quy định của Tập đoàn.

Đối với việc quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại Tập đoàn, Kết luận chỉ ra việc quản lý, sử dụng vốn của nhà nước tại Tập đoàn và việc chia cổ tức cho phần vốn góp của nhà nước tại Tập đoàn: Công ty mẹ - Tập đoàn tạm ứng tiền vốn đầu tư cho 17 đơn vị thành viên 100% vốn Tập đoàn, tính đến ngày 31/12/2024 số tiền 2.304.428,21 triệu đồng đang theo dõi trên tài khoản phải thu - phải trả nhưng không có văn bản thoả thuận với các công ty thành viên là chưa đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 Quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.
Đối với việc trích Quỹ đầu tư phát triển tại Công ty mẹ - Tập đoàn và một số công ty con của Tập đoàn, theo kết luận Công ty mẹ - Tập đoàn từ năm 2019 đến năm 2024 trích Quỹ đầu tư phát triển đảm bảo tỷ lệ theo quy định của pháp luật (năm 2018 không trích). Các công ty thành viên cũng được "gọi tên" trong các tồn tại vi phạm như: Công ty TNHH MTV Cao su Kon Tum, Công ty TNHH MTV Cao su Ea Hleo năm 2024 trích Quỹ đầu tư phát triển nhưng chưa sử dụng; Công ty TNHH MTV Cao su Bình Long từ năm 2018 đến năm 2024 trích Quỹ đầu tư phát triển nhưng chưa sử dụng, chưa đảm bảo hiệu quả, chưa tối ưu hóa lợi ích các nguồn lực của Tập đoàn theo quy định; Công ty cổ phần Cao su Phước Hoà từ năm 2018 đến năm 2024 đã trích lập Quỹ đầu tư phát triển, số dư Quỹ đầu tư phát triển ghi nhận trên Báo cáo tài chính của công ty tại thời điểm 31/12/2024 là 1.080.829,46 triệu đồng, tại thời điểm 30/6/2025 là 1.175.870,28 triệu đồng. Công ty sử dụng Quỹ đầu tư phát triển đầu tư các công trình đầu tư XDCB, mua sắm TSCĐ và đã hoàn thành được phê duyệt theo quyết định của HĐQT Công ty cổ phần Cao su Phước Hoà, đã hạch toán tăng TSCĐ, nhưng chưa trình cấp có thẩm quyền tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu, chưa đúng quy định tại Khoản 1 Điều 5, Khoản 3 Điều 6 của Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015, tiết h, Điểm 3.1, Khoản 3 Điều 35 của Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính.
Về việc phân phối lợi nhuận sau thuế/chia cổ tức và nộp cổ tức/lợi nhuận về Công ty mẹ - Tập đoàn, có trường hợp các Công ty thuộc Tập đoàn, Công ty mẹ - Tập đoàn chưa nộp kịp thời khoản cổ tức/lợi nhuận được chia về Công ty mẹ - Tập đoàn theo quy định tại Khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020. Cũng với đó, Công ty cổ phần VRG - Bảo Lộc, Công ty cổ phần Thủy điện Geruco Sông Côn, Công ty cổ phần VRG - Đắk Nông, Công ty cổ phần Cao su Đồng Phú chưa phân phối hết lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức cho các cổ đông góp vốn theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 167/2024/NĐ-CP của Chính phủ.
Kết luận Thanh tra nêu: Tổng nợ phải thu ngắn hạn lũy kế đến 31/12/2024 của Tập đoàn năm 2024 là 1.281.716,75 triệu đồng; Tập đoàn và các đơn vị chưa thực hiện đối chiếu đầy đủ công nợ phải thu ngắn hạn số tiền 282.498,97 triệu đồng (chiếm 33,98% tổng nợ phải thu ngắn hạn), nợ phải thu ngắn hạn quá hạn 414.706,09 triệu đồng (chiếm 30,66% tổng nợ phải thu ngắn hạn), trong đó nợ quá hạn từ 6 tháng đến 1 năm: 7.454,94 triệu đồng, nợ quá hạn từ 1 năm đến 2 năm: 1.489,89 triệu đồng, nợ quá hạn từ 2 năm đến 3 năm: 10.619,83 triệu đồng, nợ quá hạn trên 3 năm hoặc nợ xấu: 327.822,52 triệu đồng và đã trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi số tiền 126.982,92 triệu đồng. Ngoài ra, có việc hạch toán nguyên giá tài sản cố định, hạch toán chi phí khấu hao tài sản cố định vào chi phí sản xuất kinh doanh chưa đúng quy định.
Cũng theo kết luận thanh tra, trong lĩnh vực quản lý đất đai, có 6 công ty được địa phương giao, cho thuê đất phục vụ sản xuất kinh doanh nhưng bị các tổ chức, cá nhân lấn chiếm với diện tích hơn 1.600 ha.
Đối với hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, Thanh tra Chính phủ đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính của Tập đoàn/công ty thuộc Tập đoàn chưa cao so với quy mô vốn đầu tư. Còn tồn tại tình trạng một số công ty con hoạt động kém hiệu quả thua lỗ/lỗ lũy kế nhiều năm chưa bảo đảm yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn nhà nước theo quy định của pháp luật và quy chế nội bộ của Tập đoàn, tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm giá trị vốn đầu tư, tiềm ẩn rủi ro mất vốn nhà nước.
Công ty mẹ - Tập đoàn và 05 công ty thuộc Tập đoàn được thanh tra thực hiện góp vốn, cổ phần đầu tư tại công ty con chưa thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Quy chế nội bộ của Tập đoàn.
Công ty mẹ Tập đoàn và 03 công ty thuộc Tập đoàn được thanh tra không xây dựng kế hoạch giám sát tài chính đối với các công ty con có vốn đầu tư của Tập đoàn giai đoạn 2018 - 2024 theo quy định nội bộ của Tập đoàn, dẫn đến một số công ty con có dấu hiệu mất an toàn tài chính không được giám sát chặt chẽ đặc biệt kịp thời. Công ty mẹ Tập đoàn và 04 công ty thuộc Tập đoàn được thanh tra không thực hiện giám sát chặt chẽ giám sát đặc biệt đối với một số công ty con có dấu hiệu mất an toàn tài chính theo quy định nội bộ của Tập đoàn.
Tập đoàn chưa thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp và tái cơ cấu các khoản đầu tư đến hết năm 2025 theo Đề án đã được Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp thông qua.
Ngoài ra, tính từ năm 2018 đến hết tháng 10-2025, các công ty thuộc tập đoàn còn phải nộp ngân sách nhà nước (tạm tính) hơn 894 tỷ đồng tiền thuê đất.
Với các tồn tại, vi phạm tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Thanh tra Chính phủ kiến nghị nhiều nội dung để khắc phục, xử lý, quản lý hiệu quả từ phía Tập đoàn và các cơ quan liên quan.
Đáng chú ý, tại Kết luận, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Tập đoàn và các Công ty thuộc Tập đoàn kiểm tra, rà soát, xác định rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan và kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân trong việc để xảy ra kết quả hoạt động thua lỗ/lỗ lũy kế kéo dài tại các công ty có vốn đầu tư của Tập đoàn, chỉ đạo các đơn vị khẩn trương có các biện pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót, vi phạm trong đầu tư tài chính dài hạn: (i) Tăng cường rà soát, đánh giá các khoản đầu tư tài chính tại doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, xảy ra tình trạng lỗ/lỗ lũy kế kéo dài; chỉ đạo Người đại diện vốn tại các doanh nghiệp có vốn góp của Tập đoàn có ý kiến với HDTV/HĐQT xây dựng phương án để khắc phục các khó khăn, vướng mắc, nhằm đảm bảo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn đầu tư theo quy định; (ii) Rà soát, báo cáo Cơ quan đại diện chủ sở hữu khắc phục tình trạng sở hữu chéo giữa các công ty của Tập đoàn không đúng theo quy định pháp luật và quy chế nội bộ của Tập đoàn; (iii) Kiểm tra, giám sát, khắc phục những hạn chế, tồn tại, chấn chỉnh công tác quản lý các khoản đầu tư tài chính tại các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, có dấu hiệu mất an toàn tài chính; (iv) Khẩn trương thực hiện Đề án cơ cấu lại Tập đoàn giai đoạn 2021 - 2025 đã được phê duyệt.
VRG là Tập đoàn hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần do nhà nước nắm giữ 96,77% vốn điều lệ. Tại thời điểm 31/12/2024, quy mô hoạt động của Tập đoàn gồm: 04 đơn vị sự nghiệp do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ 100% vốn; 20 Công ty TNHH MTV do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; 27 Công ty cổ phần do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 19 Công ty liên kết do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ từ 28% đến 49% vốn điều lệ; Công ty mẹ - Tập đoàn đầu tư khác vào 10 công ty với số vốn điều lệ nắm giữ dưới 20%.