Kho dữ liệu di sản số mở ra cơ hội để doanh nghiệp Quảng Trị phát triển sản phẩm công nghệ, du lịch và công nghiệp văn hóa, biến giá trị di sản thành nguồn lực tăng trưởng kinh tế mới.

“Mở khóa” di sản
Quảng Trị đang đứng trước cơ hội chuyển hóa di sản lịch sử, văn hóa thành giá trị kinh tế mới. Bài toán không chỉ là lưu giữ di sản trên môi trường số, mà còn phải tạo cơ chế để doanh nghiệp khai thác, phát triển sản phẩm sáng tạo, mở rộng thị trường và lan tỏa lợi ích đến cộng đồng.
Đây cũng là định hướng được đặt ra tại Hội thảo khoa học và tham vấn chuyên gia do UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức, phục vụ hoàn thiện cơ sở khoa học của Đề án “Chuyển đổi số và phát triển Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045”.
Phát biểu tại hội thảo, ông Hoàng Xuân Tân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, nhấn mạnh: “Mục tiêu sau cùng không phải là số hóa di sản để lưu giữ trong một hệ thống công nghệ, mà là để những giá trị văn hóa, lịch sử của Quảng Trị được bảo tồn đúng đắn, lan tỏa rộng rãi và tiếp tục tạo ra những giá trị mới cho cộng đồng và các thế hệ mai sau”.
Theo thông tin từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến tháng 3/2026, Quảng Trị đã số hóa 520 di tích dưới dạng dữ liệu 2D và gần 3.500 di vật, cổ vật; trong đó có 156 hiện vật được tái hiện bằng công nghệ 3D, cùng 4 trong số 5 bảo vật quốc gia được số hóa 3D. Bản đồ số VR360 các điểm di tích cũng đã được triển khai.
Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để tỉnh nghiên cứu phát triển các hoạt động kinh tế mới. Tuy nhiên, dữ liệu được số hóa chưa đồng nghĩa với tài sản có thể thương mại hóa. Muốn tạo ra giá trị, dữ liệu cần được chuẩn hóa, xác định rõ quyền sử dụng, điều kiện cấp phép và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 tạo cơ sở chính sách quan trọng để các địa phương phát huy tài nguyên văn hóa thông qua sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ.
Với Quảng Trị, dư địa phát triển không chỉ nằm ở việc đưa hình ảnh di tích lên các nền tảng trực tuyến, mà còn ở khả năng xây dựng hệ sinh thái sản phẩm dựa trên câu chuyện lịch sử, ký ức chiến tranh, khát vọng hòa bình và bản sắc văn hóa địa phương.
Chuỗi giá trị này có thể mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp công nghệ, đơn vị sản xuất nội dung, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp du lịch. Một sản phẩm số được thiết kế tốt không chỉ giúp quảng bá điểm đến mà còn có thể dẫn khách từ trải nghiệm trực tuyến đến hành trình thực tế, kết nối tham quan di tích với lưu trú, ẩm thực, mua sắm sản phẩm địa phương và dịch vụ du lịch.
Chủ trì Hội thảo, GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia cho rằng: Đối với Quảng Trị, mục tiêu không chỉ là hình thành một kho tài sản số, mà còn là xây dựng một mô hình quản trị trong đó dữ liệu di sản được sử dụng có trách nhiệm, các giá trị văn hóa có điều kiện lan tỏa và những lợi ích kinh tế được tạo lập trên cơ sở minh bạch, bền vững.
Quảng Trị nghiên cứu cơ chế ghi nhận tài sản dữ liệu vô hình trong hạch toán kế toán và quản lý tài sản công; phương án cấp quyền khai thác tài sản số theo biểu mức thu ba tầng; đồng thời làm rõ cơ sở pháp lý về sở hữu trí tuệ và quyền sử dụng dữ liệu trong phát triển, huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI).
.jpg)
Cơ hội cho doanh nghiệp
Chuỗi giá trị di sản số mở ra không gian kinh doanh mới cho doanh nghiệp công nghệ, truyền thông, du lịch và giáo dục. Từ kho dữ liệu chuẩn hóa về 520 di tích và hàng nghìn cổ vật, doanh nghiệp có thể phát triển game lịch sử, ứng dụng VR/AR, nội dung số và sản phẩm AI có bản quyền minh bạch.
Với doanh nghiệp du lịch, tour ảo VR360 có thể trở thành điểm chạm dẫn khách đến di sản thực, kéo theo nhu cầu lưu trú, ẩm thực, mua sắm và trải nghiệm bản địa. Di sản vì thế không chỉ là điểm đến, mà còn là nguồn nguyên liệu để phát triển hệ sinh thái dịch vụ và gia tăng chi tiêu du khách.
Trong giáo dục, kho dữ liệu di sản tạo cơ hội phát triển bài giảng tương tác, tour học tập số và sản phẩm trải nghiệm dành cho trường học. Đây là thị trường có khả năng kết nối công nghệ, nội dung sáng tạo với nhu cầu giáo dục và bảo tồn văn hóa.
Để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, cần cơ chế hợp tác công - tư minh bạch: Nhà nước chuẩn hóa dữ liệu, bảo tồn di sản và xây dựng hạ tầng dùng chung; doanh nghiệp phát triển sản phẩm, tổ chức phân phối và thương mại hóa. Quyền khai thác, biểu phí và sở hữu trí tuệ rõ ràng sẽ là điều kiện để hình thành dòng vốn đầu tư dài hạn.
Hiệu quả Đề án cần được đo bằng những giá trị thị trường cụ thể: số sản phẩm thương mại hóa, doanh thu, việc làm và mức độ tham gia của doanh nghiệp. Việc tính toán đóng góp vào GRDP phải có phương pháp kiểm chứng, tránh tính trùng giữa giá trị dữ liệu đầu vào và doanh thu phát sinh từ các sản phẩm khai thác dữ liệu.
Bài toán cuối cùng không phải khai thác được bao nhiêu dữ liệu, mà là chuyển hóa dữ liệu thành giá trị kinh tế đến đâu. Với Quảng Trị, thương mại hóa di sản chỉ bền vững khi tạo sinh kế cho cộng đồng, bảo đảm tính xác thực và dành nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn.