Cùng với quy định liên quan đến cơ chế giá điện, góp ý xây dựng và hoàn thiện Dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), không ít ý kiến cũng đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm trong triển khai các dự án điện lực.
Như đã thông tin, Dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi) được xây dựng với bố cục gồm 3 điều, trong đó, kế thừa và có sửa đổi chủ yếu 27 điều, bãi bỏ 3 điều; bổ sung, thay thế, bãi bỏ một số từ, cụm từ, điểm, khoản của một số điều để bảo đảm thống nhất.

Các nội dung trọng tâm của dự thảo luật gồm: Đơn giản hóa thủ tục đầu tư dự án điện lực; bổ sung cơ chế đầu tư lưới điện truyền tải theo phương thức đối tác công tư; hoàn thiện chính sách phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, điện gió ngoài khơi và điện rác.
Việc sửa đổi luật lần này nhằm thể chế hóa chủ trương mới về an ninh năng lượng; tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, giá và thị trường điện nhằm khai thông điểm nghẽn thể chế đang ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nguồn điện, lưới điện và bảo đảm an ninh cung cấp điện; đồng thời bảo đảm giá điện hợp lý, công khai, minh bạch.
Cùng với quy định liên quan đến cơ chế giá điện, góp ý xây dựng và hoàn thiện Dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), không ít ý kiến cũng đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm trong triển khai các dự án điện lực.

Quan tâm đến chủ trương đầu tư dự án điện tại Điều 13 của dự thảo luật, tham gia góp ý, đại biểu Nguyễn Thành Công, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình đề nghị làm rõ cơ sở đề xuất luật hóa và mở rộng Nghị quyết 253/2025/QH15 về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030 không chỉ dừng lại ở việc không thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án lưới điện, mà còn áp dụng chung cho tất cả các dự án điện lực. Bởi Nghị quyết 253/2025/QH15 vốn quy định các cơ chế đặc thù áp dụng trong giai đoạn 2026-2030, hiện chưa đủ điều kiện để tổng kết đánh giá toàn diện.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng lưu ý, cần làm rõ quy định “không thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư” có đồng nghĩa với việc dự án “không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư” hay không, nhằm tránh những cách hiểu khác nhau gây vướng mắc trong thực tiễn triển khai.
Đối với quy định hợp đồng dự án điện lực theo phương thức đối tác công tư (PPP), đại biểu cho rằng, nội dung đề xuất sửa đổi tại Điều 16 dự thảo luật vẫn chưa rõ nội hàm chính sách và mối liên hệ với Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP), chưa hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW và Kết luận 09-KL/TW về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Vì vậy, đại biểu đề nghị thiết kế rõ các tiêu chí cơ bản để xác định dự án nguồn điện, lưới điện nào được triển khai theo phương thức PPP; bám sát nguyên tắc luật phải quy định chặt chẽ các vấn đề quan trọng như cơ chế tài chính, giá cả, quyền và nghĩa vụ của các bên để đảm bảo tính minh bạch.
Liên quan đến việc đầu tư dự án điện lực, tham gia góp ý, đại biểu Hà Thị Anh Thư, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi cũng đề nghị làm rõ tiêu chí xác định công trình điện cấp bách, nhất là trường hợp thiếu nguồn, quá tải hoặc có nguy cơ gián đoạn cung cấp điện.
Cụ thể, đối với xã hội hóa đầu tư lưới điện, đại biểu cho rằng, cần quy định rõ chủ thể đầu tư, quyền sở hữu tài sản, trách nhiệm vận hành và cơ chế thu hồi vốn. Đồng thời, cần xác định thời hạn ký hợp đồng mua bán điện sau đấu thầu và trách nhiệm khi chậm phí, tránh tình trạng nhà đầu tư đã trúng thầu nhưng dự án vẫn không được triển khai.
Về đất đai, giải phóng mặt bằng và hành lang an toàn lưới điện quy định tại Điều 68 của dự thảo luật, đại biểu đề nghị, cần đồng bộ quy hoạch điện với kế hoạch sử dụng đất, tháo gỡ vướng mắc giải phóng mặt bằng, nhất là đối với các công trình cấp bách.
Đối với các công trình trong hành lang an toàn lưới điện nhưng không thu hồi, theo đại biểu, cần phải quy định rõ quyền tiếp cận các đơn vị để kiểm tra, bảo trì và xử lý nguy cơ sự cố. Đồng thời, cần xác định trách nhiệm, thông báo bồi thường, hỗ trợ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.
Cùng với các vấn đề đã nêu, về đơn giản hóa thủ tục đầu tư các dự án điện lực, bày tỏ đồng tình với chủ trương tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án điện lực để bảo đảm cung ứng điện, nhất là trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, tuy nhiên, một số ý kiến cũng lưu ý, đơn giản hóa thủ tục không có nghĩa là hạ thấp yêu cầu quản lý Nhà nước. Nếu bỏ một thủ tục thì phải xác định rõ cơ chế kiểm soát thay thế, cơ quan chịu trách nhiệm, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư và trách nhiệm giải trình.