Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nhằm tạo cơ sở pháp lý thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, tuy nhiên, để tăng tính minh bạch, không ít ý kiến đề xuất, cần tiếp tục cân nhắc, hoàn thiện một số quy định.

Nhằm thể chế hóa các chủ trương, định hướng tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính vừa có Tờ trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư gửi tới Chính phủ.
Điểm mới đáng chú ý
Theo đó, liên quan đến ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, Dự thảo Luật (sửa đổi) đã bổ sung đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư đặc biệt; chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt; nguyên tắc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt; cơ chế đàm phán gói chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội gắn với kết quả thực hiện cam kết của Chính phủ.
Đáng chú ý, về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài (khoản 3 Điều 1 Dự thảo) bổ sung khoản 3a và khoản 3b vào sau khoản 3 Điều 8 Luật Đầu tư theo hướng:
“3a. Căn cứ điều kiện kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ xem xét, quyết định cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế hoặc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư.
3b. Căn cứ điều kiện kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, trường hợp cần thiết để thu hút các dự án đầu tư chiến lược, có tác động lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo mà cần có yêu cầu nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia, dân tộc”.
Đánh giá cao nội dung được đề xuất, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, không ít ý kiến cho rằng, nội dung chính sách cần được tiếp tục cân nhắc, hoàn thiện nhằm tăng tính minh bạch.
Về nội dung nêu trên, tại văn bản góp ý gửi Bộ Tư pháp mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhìn nhận, quy định trên trao quyền cho Chính phủ quy định về các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài sẽ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường hoặc cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế.
Tuy nhiên, quy định này chưa rõ ràng, bởi các trường hợp khoản 3a có được hiểu, mặc dù trong các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư quy định các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài nhưng Chính phủ có thể quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế hoặc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường hay không? Các trường hợp khoản 3b có được hiểu là Chính phủ sẽ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với ngành, nghề mà Việt Nam chưa mở không?
Mặt khác, theo VCCI, giữa các trường hợp tại khoản 3a và khoản 3b rất khó để phân biệt với nhau, nội dung của khoản 3a đã bao trùm cả nội dung của khoản 3b.
Tiêu chí để Chính phủ xác định các ngành nghề nới lỏng điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài còn rất chung chung, điều này khiến cho các quy định tại Luật chưa rõ ràng về định hướng nới lỏng điều kiện tiếp cận các ngành, nghề hạn chế tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài;
Theo nội dung tại Tờ trình, “có 11/91 ngành, phân ngành quy định điều kiện về hình thức đầu tư là nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh để được thực hiện các ngành, phân ngành này tại Việt Nam mà không hạn chế về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này có đang được hiểu, 11 ngành, phân ngành này sẽ được mở cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận mà không giới hạn điều kiện nào? Ngoài 11 ngành, phân ngành này thì các ngành, phân ngành khác có được cân nhắc, xem xét hay không?
“Đây là một trong những sửa đổi quan trọng tại Dự thảo, vì vậy đề nghị thiết kế lại quy định để làm rõ hơn các vấn đề trên”, VCCI góp ý.
Tham gia góp ý nội dung này, Thanh tra Chính phủ cũng đề nghị ban soạn thảo cần bổ sung quy định chi tiết về các tiêu chí xác định thế nào là “trường hợp cần thiết”. Đồng thời kiến nghị, làm rõ quy trình thực hiện cũng như xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định yếu tố bảo đảm an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Theo Thanh tra Chính phủ, việc quy định cụ thể các nội dung này được xem là giải pháp cần thiết nhằm kiểm soát chặt chẽ rủi ro an ninh đối với các lĩnh vực nhạy cảm và ngăn ngừa nguy cơ phát sinh cơ chế “xin - cho” trong thực tế.