Tâm điểm

Thu hút FDI gắn với nâng tầm doanh nghiệp nội

Yến Nhung thực hiện • 20/10/2026 10:27

Mở rộng quyền tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài cần đi cùng cơ chế kết nối thực chất với doanh nghiệp trong nước.

nguyen thuong lang
PGS TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân

Đây là chia sẻ của PGS TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân với Diễn đàn Doanh nghiệp.

- Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi (Dự thảo) đang hướng tới đơn giản hóa thủ tục và mở rộng quyền tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài. Theo ông, việc giảm các điều kiện gia nhập thị trường có thể tác động thế nào đến chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam?

Đây là bước tiến quan trọng trong cải thiện môi trường đầu tư, thông qua đơn giản hóa thủ tục và mở rộng quyền tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài. Điều này phù hợp với xu hướng tự do hóa, minh bạch và công bằng trong thương mại quốc tế, đồng thời củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào nỗ lực cải cách thể chế của Việt Nam.

Việc sửa đổi Luật Đầu tư vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư. Khi được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp hạ tầng, bao gồm cả hạ tầng mạng, những thay đổi này sẽ góp phần cải thiện toàn diện môi trường đầu tư, đáp ứng mục tiêu thu hút FDI theo Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Việc giảm điều kiện gia nhập thị trường cũng tạo cơ hội thu hút thêm nhà đầu tư và mở rộng quy mô vốn FDI, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và xung đột khu vực tác động đến dòng vốn toàn cầu. Khi số lượng nhà đầu tư tăng lên, Việt Nam có thêm điều kiện để sàng lọc, lựa chọn những dự án phù hợp, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, vốn lớn, có thương hiệu và mô hình quản trị hiện đại.

Quan trọng hơn, mục tiêu không chỉ là gia tăng quy mô vốn mà còn nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng tỷ lệ nội địa hóa và kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, đây cũng là cơ hội thúc đẩy hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A), phát triển thị trường khoa học – công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

- Một số ý kiến đề xuất cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu tới 100% vốn tại nhiều lĩnh vực, thay vì đặt nặng các giới hạn về tỷ lệ sở hữu. Đâu là những trường hợp Việt Nam nên mở hoàn toàn, và đâu là lĩnh vực vẫn cần điều kiện để bảo đảm lợi ích kinh tế trong nước, thưa ông?

Theo tôi, cần nhìn nhận vấn đề sở hữu 100% vốn nước ngoài trên cơ sở bảo đảm quyền tự do lựa chọn hình thức đầu tư của nhà đầu tư, đồng thời gắn thu hút FDI với mục tiêu nâng cao năng lực của nền kinh tế trong nước.

Trên thực tế, Việt Nam đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong khoảng 20 năm qua. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở tỷ lệ sở hữu mà còn ở cách thiết kế chính sách để phát huy hiệu quả lan tỏa của dòng vốn FDI.

Với những lĩnh vực có khả năng tạo ra sự lan tỏa lớn về công nghệ và năng lực sản xuất như điện thoại, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng, Việt Nam cần cân nhắc điều kiện sở hữu phù hợp để tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia, hợp tác và học hỏi.

Trong khi đó, các lĩnh vực như chế biến nông, lâm, thủy sản, tổ chức chuỗi cung ứng và một số ngành dịch vụ chất lượng cao như y tế, ngân hàng- tài chính, nhân lực du lịch có thể xem xét mở rộng quyền sở hữu 100% vốn nước ngoài để thu hút thêm nguồn lực và kinh nghiệm quản trị quốc tế.

Do các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa đã bị loại bỏ theo cam kết WTO, Việt Nam nên chuyển sang cơ chế khuyến khích dựa trên kết quả thực chất. Nhà đầu tư có đóng góp về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, đầu tư nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp nội địa và tạo cơ hội cho nhân sự Việt Nam đảm nhiệm vị trí quản lý cấp trung, cấp cao cần được xem xét hưởng ưu đãi phù hợp thông qua cơ chế hậu kiểm. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả lan tỏa của dòng vốn FDI.

- Theo ông, cần thiết kế cơ chế nào để tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp Việt có thêm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng, tiếp nhận công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh khi Việt Nam tiếp tục mở cửa thị trường đầu tư?

Theo tôi, cần xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp FDI thường có lợi thế về công nghệ, năng lực tài chính, thương hiệu, hệ sinh thái và mô hình quản trị hiện đại. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về năng lực công nghệ và nguồn lực, nên khó đảm nhận độc lập các đơn hàng lớn, có yêu cầu cao về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển công nghệ chiến lược và nâng cao năng suất, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ công nghệ sẽ ngày càng tăng. Doanh nghiệp Việt cần chủ động kết nối với doanh nghiệp FDI để cùng tham gia thực hiện đơn hàng, qua đó vừa mở rộng cơ hội kinh doanh, vừa học hỏi và từng bước làm chủ công nghệ.

Một giải pháp là thúc đẩy các hình thức hợp tác kinh doanh, liên doanh, trong đó doanh nghiệp Việt có thể đóng góp vốn, quyền sử dụng đất, máy móc, thiết bị hoặc tài sản vô hình; doanh nghiệp FDI đóng góp công nghệ, bí quyết kỹ thuật, vốn và kinh nghiệm quản trị.

Tỷ lệ góp vốn và phân chia lợi ích cần được các bên thỏa thuận phù hợp với năng lực, mức độ đóng góp và rủi ro của mỗi bên. Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu cơ chế tạo điều kiện để nhà đầu tư trong nước tham gia sở hữu cổ phần tại các doanh nghiệp FDI thông qua thị trường chứng khoán, từ đó từng bước tiếp cận và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Về lâu dài, mục tiêu không chỉ là tạo thêm đơn hàng cho doanh nghiệp Việt mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực nội tại, học hỏi mô hình quản trị, phát triển công nghệ và hình thành năng lực sản xuất độc lập.

Khi đó, doanh nghiệp trong nước mới có thể từng bước chuyển từ vị trí cung ứng đơn giản sang hợp tác bình đẳng hơn với doanh nghiệp FDI trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Chính sách thu hút FDI cần gắn chặt với chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt trở thành nguồn lực có giá trị đối với các tập đoàn toàn cầu, việc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sẽ là kết quả tự nhiên của năng lực, chứ không chỉ là mục tiêu của chính sách.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Thu hút FDI gắn với nâng tầm doanh nghiệp nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO