Nghị quyết số 10/NQ-TW không chỉ điều chỉnh đơn thuần về thu hút đầu tư nước ngoài, mà phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Nghị quyết số 10/NQ-TW đặt mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy, việc thu hút FDI chất lượng cao chỉ thành công khi quốc gia tiếp nhận không xem dòng vốn đầu tư nước ngoài là mục tiêu cuối cùng, mà xem FDI là công cụ để nâng cấp năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị, nhân lực và vị thế cạnh tranh quốc gia.
Để đạt được mục tiêu huy động vốn chất lượng cao, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm sử dụng dòng vốn, công nghệ, tri thức và mạng lưới thị trường từ Hàn Quốc và Nhật Bản để thúc đẩy công nghiệp hóa. Điểm chung của các nền kinh tế thành công không phải là thu hút FDI bằng mọi giá, mà là biết lựa chọn dòng vốn phù hợp, gắn FDI với chiến lược công nghiệp quốc gia, phát triển doanh nghiệp nội địa và từng bước làm chủ các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nói cách khác, vốn FDI phải vừa chất lượng, vừa hợp lực và thúc đẩy, hỗ trợ cho các khu vực kinh tế nội địa, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân cùng “cất cánh”.
Cụ thể tại Hàn Quốc, FDI luôn phải gắn với nâng cấp năng lực nội sinh. Hàn Quốc không dựa vào vốn nước ngoài mà chú trọng kết hợp vốn, công nghệ, thị trường xuất khẩu, chính sách công nghiệp và chiến lược phát triển doanh nghiệp quốc gia. Nhà nước định hướng phát triển các ngành then chốt, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, đầu tư mạnh vào giáo dục, đào tạo kỹ thuật và nghiên cứu phát triển.
Nhờ những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu và tái thiết nền kinh tế như vậy từ sau 1960, Hàn Quốc đã làm nên một “kỳ tích sông Hàn”. Tuy nhiên, để FDI hay công nghệ nước ngoài phát huy được giá trị lâu dài, bài học lớn là phải tiếp cận góc nhìn không gian và khu vực. Trong đó, ưu tiên đầu tư vào các trung tâm phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa với dự án triển khai xây dựng đường sá, đập, cảng, hệ thống điện…, hoàn thiện hạ tầng. Bên cạnh đó, cung cấp khoản trợ cấp để thúc đẩy tăng trưởng ở các vùng nông thôn kém phát triển.
Có thể nói, tăng trưởng kinh tế cân bằng ở các vùng và hoàn thiện hạ tầng là “chìa khóa” quan trọng để vốn FDI có thể gắn bó ổn định dài lâu. Trong khi đó, một nền kinh tế có doanh nghiệp nội địa tư nhân được kích thích ngày càng nâng cao năng lực học hỏi, cải tiến và vươn lên sẽ hấp thụ nguồn vốn FDI, đóng góp tối ưu cho giá trị chuỗi.
Nếu doanh nghiệp trong nước không đủ sức tiếp nhận, FDI có thể chỉ tạo ra hoạt động gia công, lắp ráp, trong khi công nghệ lõi, thương hiệu và giá trị gia tăng cao vẫn nằm ở bên ngoài. Ngược lại, khi doanh nghiệp nội địa có năng lực tích lũy công nghệ và quản trị, FDI sẽ trở thành kênh truyền dẫn tri thức, giúp nền kinh tế nâng cấp nhanh hơn. Việc thu hút dàn trải FDI theo địa giới hành chính cần được thay đổi để tiến đến đạt các mục tiêu với 4 định hướng lớn mà Nghị quyết số 10/NQ-TW đặt ra.
Một trong 4 định hướng lớn của Nghị quyết số 10/NQ-TW là nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
Hiện nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, phát triển thị trường vốn là nhiệm vụ không thể thiếu. Thị trường chứng khoán cần tiếp tục cải thiện chất lượng công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán, hạ tầng giao dịch, cơ chế thanh toán và khả năng tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài. Triển vọng nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam là cơ hội lớn để thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ trở thành động lực thực sự nếu thị trường vận hành minh bạch, kỷ luật và bảo vệ tốt quyền lợi nhà đầu tư.
Các kiến nghị của các nhà đầu tư quốc tế như Dragon Capital, VinaCapital… để cải thiện thị trường vốn, đặc biệt về vận hành trung tâm tài chính quốc tế, về ngoại hối, và cần sớm thúc đẩy nâng hạng chuẩn MSCI trước 2030 là những mục tiêu cần hướng đến nhằm hợp lực FDI, bao gồm đưa vốn FDI lên sàn, nâng chất sàn chứng khoán, hút vốn FII để tăng “đòn bẩy” nguồn lực dài hạn. Hơn hết, đưa thị trường vốn Việt Nam thực sự hội nhập sâu, thu hút, phân phối dòng chảy vốn toàn cầu.
Ở đây, xin kiến nghị thêm đối với thu hút vốn FDI trên thị trường vốn, không thể “bỏ quên” kênh vốn nợ. Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cần tiếp tục củng cố niềm tin thông qua xếp hạng tín nhiệm, công bố thông tin đầy đủ, kiểm soát chất lượng tổ chức phát hành và phát triển nhà đầu tư tổ chức. Một thị trường trái phiếu minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp huy động vốn dài hạn từ các dòng FDI, bao gồm FDI - ESG…, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hỗ trợ các dự án hạ tầng, năng lượng, bất động sản công nghiệp, đô thị và chuyển đổi xanh.
Đây là nền tảng góp phần từng bước nâng tầm nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.