Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 22/4, Quốc hội thảo luận Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam.
Nhất trí với nhiều nội dung trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng như các giải pháp Chính phủ đã đề xuất nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống và thúc đẩy đầu tư phát triển văn hóa, tham gia thảo luận, đại biểu Trần Thị Vân, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh cho rằng, Dự thảo Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm tương đối toàn diện đến cả hai trụ cột chính, đó là: bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa. Điều đó vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc không bị phai mờ trong quá trình hội nhập, vừa xác định công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế tiềm năng để đột phá phát triển.
Tuy nhiên, có một thực tế đang tồn tại khi nhu cầu tiếp cận văn hóa ngày càng đa dạng và mang tính thị trường, thì công tác bảo tồn văn hóa ở nước ta hiện nay lại chủ yếu được triển khai theo hướng là “bảo tồn tĩnh”. Tập trung vào lưu giữ, phục dựng và bảo vệ nguyên trạng di sản. Cách tiếp cận này tuy giữ được bản sắc văn hóa nhưng lại bộc lộ nhiều hạn chế.

Cụ thể, văn hóa bị tách khỏi đời sống đương đại và khó tiếp cận, đặc biệt là với thế hệ trẻ; thiếu cơ chế chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế, văn hóa sẽ phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước, từ đó thiếu tính bền vững. Trong khi những giá trị văn hóa này, nếu đưa được vào sản phẩm công nghiệp sáng tạo lại có khả năng lan tỏa rất nhanh, rất rộng và rất mạnh.
“Bộ phim “Mưa Đỏ” là một phim chiến tranh khai thác từ yếu tố lịch sử, văn hóa và cách mạng; MV “Bắc Bling”, một sản phẩm giải trí hiện đại nhưng được khai thác từ chất liệu văn hóa truyền thống; cậu bé người sói "Wolfoo", phim hoạt hình Việt Nam sản xuất bằng nội dung số đạt 3 tỷ lượt người xem toàn cầu trên tháng, 50 triệu người theo dõi đa nền tảng và phát hành bằng 17 ngôn ngữ khác nhau…”, đại biểu nêu ví dụ.
Đồng thời bày tỏ, văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu sáng tạo hấp dẫn trong thời đại số, vừa góp phần bảo tồn theo cách linh hoạt, vừa đem lại giá trị về kinh tế. Nếu chúng ta chỉ dừng lại ở bảo tồn văn hóa thì văn hóa sẽ mãi là di sản, có giá trị nhưng không được khai thác. Văn hóa chỉ thực sự sống khi được đặt trong dòng chảy của thị trường và sự sáng tạo.

Theo đại biểu, ở chiều ngược lại, phát triển công nghiệp văn hóa mặc dù được xác định là động lực kinh tế mới, nhưng các chính sách được thiết kế trong Dự thảo mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích, chưa tạo được động lực tài chính đủ mạnh để thu hút khu vực tư nhân và đầu tư quốc tế. Dự thảo chưa có cơ chế thử nghiệm chính sách đủ linh hoạt cho lĩnh vực mới, còn thiếu các chỉ tiêu định lượng rõ ràng cho từng giai đoạn 5 năm hay 10 năm.
“Vậy bao giờ di sản Việt Nam mới được số hóa? Bao giờ mới có nền tảng số quốc gia? Bao giờ chúng ta xây dựng xong bộ tiêu chí quốc gia về văn hóa? Sau 5 năm, 10 năm thì có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực văn hóa và xuất khẩu được bao nhiêu sản phẩm văn hóa? Và văn hóa đóng góp được bao nhiêu tỷ lệ phần trăm vào GDP?”, đại biểu đặt vấn đề.
Từ đó đề xuất, Thứ nhất - Đối với chính sách chuyển đổi số tại Điều 10. Cần được xác định là trụ cột trung tâm, cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa; hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số.
Thứ hai - Các chính sách ưu đãi về tài chính và thuế tại Điều 4. Cần mạnh mẽ hơn. Bên cạnh mức thuế suất 5% VAT ưu đãi, cần áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cạnh tranh hơn; miễn giảm dài hạn cho các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm và cho phép khấu trừ cao hơn đối với các chi phí sáng tạo cho điện ảnh, game và âm nhạc số. Đây là công cụ đã được kiểm chứng mà nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng hiệu quả để thu hút đầu tư vào lĩnh vực này.
Thứ ba - Đối với chính sách đất đai và hạ tầng tại Điều 5. Cần cụ thể và đột phá hơn, cần quy định rõ tỷ lệ quỹ đất dành cho không gian sáng tạo và cho thuê dài hạn đối với văn hóa với chi phí ưu đãi; đồng thời thí điểm các đặc khu sáng tạo văn hóa tại các đô thị lớn và địa phương có bề dày văn hóa như thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế hay Bắc Ninh.
Cuối cùng - Nghị quyết cần bổ sung thêm cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển văn hóa quốc gia gắn trách nhiệm với người đứng đầu và tăng quyền chủ động cho địa phương trong ban hành chính sách ưu đãi đặc thù về văn hóa.
“Để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, chúng ta cần chuyển đổi tư duy mạnh mẽ: Từ bảo tồn tĩnh sang động; từ hỗ trợ sang đầu tư chiến lược; từ khuyến khích sang tạo động lực thị trường; và từ quản lý văn hóa sang phát triển kinh tế văn hóa. Để bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ những giá trị con người và bản sắc Việt Nam ra thế giới”, đại biểu bày tỏ.