Chiều 15/4, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Diễn đàn: “Xu hướng đầu tư công nghiệp Bắc Bộ - Cơ hội và thách thức 2026”.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, Bắc Bộ Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm công nghiệp mới của khu vực, thu hút sự quan tâm đặc biệt từ các nhà đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là những thách thức không nhỏ về: thể chế; hạ tầng; và chất lượng nguồn nhân lực.
Đây cũng chính là lý do Diễn đàn hôm nay được tổ chức, nhằm tạo không gian đối thoại đa chiều giữa: cơ quan quản lý; nhà đầu tư; doanh nghiệp; và các tổ chức hỗ trợ phát triển.
Diễn đàn “Xu hướng đầu tư công nghiệp Bắc Bộ – Cơ hội & Thách thức 2026” được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), UBND TP Hải Phòng. Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, Sở Công Thương Hải Phòng; Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng, Công ty TNHH Quản lý Sự kiện OMG, đơn vị tổ chức chuỗi triển lãm các ngành công nghiệp sản xuất Việt Nam 2026 phối hợp tổ chức.
Tham dự Diễn đàn có: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); Ông Trương Minh Phó Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Tài Chính; Ông Chu Việt Cường, Đại diện Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương; Ông Seck Yee Chung, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Singapore tại Việt Nam; Ông Aru David, Giám đốc vùng Mekong, tổ chức ASSIST; Ông Tidapan Sursattayawong - Tham tán Đầu tư - Văn phòng Xúc tiến Đầu tư Thái Lan tại Hà Nội; Bà Phạm Thu Nga -Phó Giám đốc VCCI Hải Phòng; Chuyên gia kinh tế Nguyễn Cảnh Cường, Cựu Tham tán công sứ tại Bỉ & EU; Ông Osamu Sudo - Phó tổng giám đốc điều hành Amata Việt Nam; Ông Trần Tiến Dũng, Chủ tịch Tập đoàn Macstar, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Logistics Việt Nam; TS. Mai Văn Sỹ, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Tư vấn thiết kế đầu tư Miền Duyên Hải; Ông Phạm Quốc Long, Phó TGĐ Tập đoàn Gemadept; Ths. Bạch Ngọc Tùng - Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ xây dựng ACUD Việt Nam; Ông Đào Anh Thắng, Phó TGĐ Phụ trách Khối Kinh doanh Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong; Ông Robert Linh - Giám đốc Vận hành VNIZ.
Về phía đơn vị tổ chức có: Bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng; Ông Phạm Tuấn Hải, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Hải Phòng; Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng, Phó Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Trần Văn Thắng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng; Ông Cao Tấn Lực, Giám đốc Công ty TNHH Quản lý Sự kiện OMG.
Diễn đàn còn có sự tham dự của gần 300 doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu đại diện cho các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp hạ tầng công nghiệp, doanh nghiệp các ngành công nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp logistics của Hải Phòng và các tỉnh thành khu vực phía Bắc.
Ban Tổ chức xin trân trọng cảm ơn sự có mặt, tham dự của các sở ban ngành thành phố Hải Phòng và đại diện các tỉnh khu vực phía Bắc, các doanh nhân, doanh nghiệp, đại diện các Hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước, các khu công nghiệp, các chuyên gia logistics, các phóng viên của các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.


Ban tổ chức xin cảm ơn sự đồng hành của: Công ty cổ phần Công nghệ xây dựng ACUD Việt Nam; AMATA Việt Nam; Tập đoàn Sao Đỏ; Công ty Cổ phần IDICO Vinh Quang; Tập đoàn KCN Việt Nam; NS BlueScope Việt Nam; Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong.








Chia sẻ tại Diễn đàn, Phó Chủ tịch Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trong những năm gần đây, công nghiệp sản xuất tiếp tục giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế Việt Nam, cả về tăng trưởng, xuất khẩu và thu hút đầu tư. Năm 2025, toàn ngành công nghiệp đóng góp khoảng 31,6% GDP, trong đó riêng khu vực chế biến – chế tạo chiếm 24,4% GDP, khẳng định vai trò trung tâm của sản xuất trong cấu trúc kinh tế quốc gia. Đà phục hồi được thể hiện rõ qua chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP).
Năm 2025, IIP tăng khoảng 10,1% so với năm trước; trong đó ngành chế biến – chế tạo tăng tới 11,1%, cho thấy xu hướng mở rộng mạnh mẽ của các lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao. Sản xuất – chế biến tiếp tục là điểm đến hấp dẫn nhất của dòng vốn FDI.
Trong 11 tháng năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký đạt 33,69 tỷ USD, trong đó lĩnh vực chế biến – chế tạo chiếm tới 82,9% tổng vốn thực hiện. Điều này phản ánh rõ vị thế của Việt Nam như một cứ điểm sản xuất chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các ngành điện tử, linh kiện, cơ khí chính xác và công nghiệp hỗ trợ.

“Trên cơ sở đà tăng trưởng 2024–2025, năm 2026 được dự báo tiếp tục là năm tăng trưởng tích cực của ngành sản xuất, với mức tăng IIP ước đạt 7–9%. Dù tốc độ có thể chậm lại do quy mô nền sản xuất đã lớn hơn, xu hướng chủ đạo sẽ là chuyển dịch từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu”, Phó Chủ tịch Hoàng Quang Phòng chia sẻ.
Đồng thời cho hay, Bắc Bộ là vùng đất đầy tiềm năng, trong đó, Hải Phòng được coi là đất lành liên tục đón các tập đoàn đa quốc gia – các đại bàng lớn về làm tổ. TP Hải Phòng hiện đứng trong Top đầu những địa phương thu hút FDI lớn nhất cả nước với 1.000 dự án FDI đến từ 40 quốc gia, vùng lãnh thổ, số vốn FDI lũy kế đạt 33,8 tỷ USD. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp (KCN), KKT trên địa bàn thành phố đạt hơn 70%.
Theo Phó Chủ tịch Hoàng Quang Phòng, đến nay, gần 40 năm thu hút đầu tư FDI và phát triển công nghiệp, các địa phương trong vùng Bắc Bộ đều có KCN và tỷ lệ lấp đầy vẫn là ưu tiên hàng đầu hơn là các ưu tiên chính sách về tiêu chí môi trường và xã hội. Do vậy, phát triển công nghiệp bằng các mô hình KCN truyền thống không còn phù hợp trong bối cảnh mới như chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ 4.0, tiêu dùng bền vững và sức khỏe người lao động trở thành vốn quý của xã hội.

“Cần thẳng thắn nhìn nhận, vùng Bắc Bộ đang gặp nhiều khó khăn để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững; đặc biệt trong việc phát triển đầu tư công nghiệp. Việc thiếu liên kết trong chiến lược phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư là vấn đề cấp bách, cần được tháo gỡ. Đồng thời, các địa phương trong vùng cần đổi mới tư duy về phát triển công nghiệp trong bối cảnh mới
Cấu trúc lại đầu tư công nghiệp trong vùng theo hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn dựa trên hàm lượng khoa học - công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nghiêu cứu và phát triển… để đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu cấp thiết đối với vùng Bắc Bộ hiện nay”, Phó Chủ tịch Hoàng Quang Phòng nhấn mạnh.
Đồng thời khuyến nghị, vùng cần xác định lại ngành công nghiệp mũi nhọn, sản phẩm mũi nhọn và sản phẩm chủ lực của vùng, cũng như xác định vị trí sản xuất, nơi cung ứng công nghiệp hỗ trợ để hình thành chuỗi liên kết sản phẩm tạo ra bước đột phá trong cung ứng và tiêu thụ.
Đối với các ngành công nghiệp nền tảng, đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên có sự hỗ trợ của Nhà nước và có cơ chế ưu đãi. Các tỉnh, thành phố cần tập trung vào vùng kinh tế có thế mạnh công nghiệp tiên phong, có khả năng dẫn dắt tạo bước đột phá, hỗ trợ các vùng khác về lĩnh vực này.
Cùng với đó, vùng cần thực hiện nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế dựa theo phân bổ nguồn lực của vùng (theo từng tỉnh), xây dựng các chỉ tiêu công nghiệp rõ ràng, tránh tình trạng xây dựng các chỉ tiêu công nghiệp rập khuôn tạo sức ép không cần thiết khi thực hiện phấn đấu các chỉ tiêu công nghiệp.

Phó Chủ tịch Hoàng Quang Phòng cho rằng, để phát triển bền vững trong việc đầu tư công nghiệp, vùng cần kiến tạo hệ sinh thái hiệu quả cho việc chuyển đổi và phát triển các ngành hiện hữu theo cách tiếp cận hiệu quả, đổi mới sáng tạo gắn với yếu tố công nghệ thông tin và truyền thông. Từng bước cấu trúc lại các khu công nghiệp, nhất là các khu công nghiệp có vị trí gần trung tâm các thành phố trong vùng theo hướng khu công nghiệp sinh thái.
Đây là mô hình thích hợp dài hạn và bền vững cho giai đoạn hậu công nghiệp của các khu chế xuất - KCN của vùng; đồng thời, sẽ định hướng dài hạn theo mô hình khu công nghiệp sinh thái với các biến thể kết hợp liên quan đô thị, thương mại, dịch vụ.
Việc cơ cấu lại cũng là cuộc cách mạng thay đổi cả về cơ chế quản lý vận hành và điều phối của Nhà nước trong một nền kinh tế thị trường bình đẳng và minh bạch. Vì vậy, liên kết vùng để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là một nhiệm vụ mới, đòi hỏi phải có định hướng mới trong phân công và hợp tác giữa các địa phương trong vùng.
Ghi nhận và biểu dương việc Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với VIMF tổ chức chuỗi diễn đàn tại Hải Phòng – TP Hồ Chí Minh – Bắc Ninh là đúng thời điểm, đúng trọng tâm và có giá trị thực tiễn cao, Phó Chủ tịch Hoàng Quang Phòng bày tỏ, chuỗi Diễn đàn 2026 không chỉ là sự kiện chuyên môn, mà là nền tảng đối thoại chiến lược, góp phần đưa công nghiệp Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển bền vững hơn và hội nhập sâu hơn.
Đồng thời tin tưởng, chuỗi Diễn đàn và mở màn là Diễn đàn: “Xu hướng đầu tư công nghiệp Bắc Bộ - cơ hội và thách thức 2026” sẽ trở thành kênh kết nối chính sách – doanh nghiệp – nhà đầu tư – công nghệ; thúc đẩy chuyển dịch sang sản xuất giá trị cao cho toàn vùng nói chung và Hải Phòng nói riêng để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trong chuỗi toàn cầu.
Phát biểu tại Diễn đàn, ông Phạm Tuấn Hải, Phó Giám đốc Sở Công thương Hải Phòng cho biết, với vị trí địa lý chiến lược cùng nền tảng hạ tầng ngày càng đồng bộ, hiện đại, thành phố Hải Phòng hội tụ đủ yếu tố cần thiết để trở thành một trong những trung tâm công nghiệp và sản xuất của Bắc Bộ và cả nước.

Theo đó, nằm ở vị trí trọng yếu trong vùng Duyên hải Bắc Bộ, Hải Phòng là giao điểm của hai hành lang kinh tế Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và tuyến hành lang ven biển phía Bắc, thành phố là đầu mối giao thông quan trọng, cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; đồng thời là địa phương duy nhất trong khu vực phía Bắc hội tụ đầy đủ 5 phương thức vận tải gồm đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển và đường thủy nội địa.
Hải Phòng cũng được xác định là đô thị trung tâm cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, giữ vai trò gắn kết các hoạt động kinh tế trong hệ thống đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ.
Với nền tảng là một thành phố công nghiệp, Hải Phòng sở hữu nhiều ngành công nghiệp truyền thống có thế mạnh như công nghiệp chế tạo; đóng và sửa chữa tàu; sản xuất kim loại; sản xuất thiết bị cơ khí siêu trường, siêu trọng; sản xuất, lắp ráp ô tô tải nhẹ; sản xuất dây và cáp điện, ống nhựa; da giầy - dệt may.
Những năm gần đây, ông Hải cho biết, Hải Phòng nổi lên là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, với trọng tâm là hạ tầng giao thông chiến lược, công nghệ thông tin, viễn thông, cảng biển và dịch vụ cảng biển, logistics, cũng như hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế và đô thị.
Xác định công nghiệp là ngành mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế, thành phố đã ghi nhận những chuyển biến rõ nét. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP tăng từ 39,05% năm 2020 lên 44,5% năm 2025.
Đáng chú ý, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực này tăng từ 45,5% lên 68% trong cùng giai đoạn.
Sau khi hợp nhất với tỉnh Hải Dương, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hải Phòng năm 2025 đạt 11,81%, đứng thứ 2 cả nước và cao nhất trong 6 thành phố trực thuộc Trung ương.
"Đây cũng là địa phương duy nhất duy trì 11 năm liên tiếp tăng trưởng ở mức hai con số, khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước", ông Hải nói.

Trên thực tế, bám sát Nghị quyết số 29 ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hải Phòng tập trung phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và thúc đẩy chuyển đổi số như một phương thức đột phá. Thành phố cũng đang xúc tiến thu hút đầu tư theo ba trụ cột kinh tế: công nghiệp - công nghệ cao, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại.
Ngành công nghiệp điện tử của thành phố cũng đã sản xuất nhiều sản phẩm công nghệ cao, thân thiện môi trường như tivi, điện thoại thông minh, máy giặt, điều hòa, máy hút bụi, thiết bị nghe nhìn ô tô.
Đặc biệt, nhiều tập đoàn lớn đã lựa chọn Hải Phòng làm điểm đến đầu tư, với các dự án quy mô lớn như Tập đoàn LG (Hàn Quốc) với 6 dự án tổng vốn trên 7,24 tỷ USD; Bridgestone (Nhật Bản) khoảng 1,22 tỷ USD; Regina Miracle (Hồng Kông) khoảng 1 tỷ USD; Pegatron (Đài Loan) khoảng 800 triệu USD; SK (Hàn Quốc) khoảng 500 triệu USD; Nipro Pharma (Nhật Bản) khoảng 250 triệu USD, cùng các doanh nghiệp lớn như Sumitomo, Aeon.
.jpg)
Với những lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng và định hướng phát triển rõ ràng, cùng quyết tâm của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, ông Hải nhấn mạnh, thành phố mong muốn lắng nghe các ý kiến đóng góp từ các bộ, ngành, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp nhằm đề xuất giải pháp cụ thể cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới, phù hợp với định hướng của Nghị quyết 29.
Đồng thời, ông Hải khẳng định, thành phố sẵn sàng đồng hành, tháo gỡ khó khăn, tìm kiếm cơ hội và thu hút nguồn lực để tiếp tục thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển bền vững.
Phát biểu tại Diễn đàn, ông Trần Văn Thắng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng nhấn mạnh: trong bối cảnh đầu tư công nghiệp bước sang chu kỳ mới, Hải Phòng đang thay đổi, chuyển từ lợi thế vị trí sang lợi thế hệ sinh thái và thể chế mới.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng Trần Văn Thắng cho biết: các Nghị quyết trụ cột đã được Bộ Chính trị ban hành đã mở ra không gian chính sách mới. Trong đó, đầu tư công nghiệp không chỉ là tăng thêm nhà máy, quan trọng hơn là tăng hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng, tăng liên kết chuỗi, tăng năng lực nội sinh và tính bền vững.
Trong bối cảnh đó, Hải Phòng không đơn thuần là địa phương có nhiều khu công nghiệp phát triển mà đang bước vào một giai đoạn mới với vị thế của một cực công nghiệp - logistics - công nghệ mới của miền Bắc. Thành phố hội tụ ngày càng rõ nét các lợi thế về hạ tầng, thể chế, hệ sinh thái đầu tư và không gian phát triển mới.
Có hệ sinh thái FDI - công nghiệp - logistics đủ lớn để tiếp nhận làn sóng đầu tư thế hệ mới, Hải Phòng là địa phương hiếm có ở miền Bắc hội tụ đủ 5 loại hình giao thông: đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và đường hàng không.
Ông Trần Văn Thắng thông tin: Hệ thống logistics của thành phố có hơn 700 ha kho bãi, duy trì tốc độ tăng trưởng 20 - 23%/năm, đóng góp khoảng 13 - 15% GRDP. Theo quy hoạch, đến năm 2030, diện tích logistics toàn thành phố sẽ đạt 1.700 - 2.000 ha, hướng tới hình thành Trung tâm logistics quốc tế Đình Vũ - Cát Hải và các trung tâm logistics cấp vùng, chuyên dụng. Trong đầu tư công nghiệp thế hệ mới, đây chính là năng lực cốt lõi của chuỗi cung ứng.
Ông Trần Văn Thắng nhấn mạnh hơn lợi thế thể chế mới của Hải Phòng sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết về thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hải Phòng.
“Đây là một cú hích lớn. Trong cạnh tranh thu hút đầu tư chất lượng cao, địa phương đi nhanh hơn không chỉ nhờ hạ tầng mà là không gian thể chế tốt hơn, thông thoáng hơn và khác biệt hơn. Hải Phòng đã thành lập Khu Thương mại tự do được bố trí tại các vị trí “đắc địa” trong các khu kinh tế ven biển. Điều đó cho thấy, Hải Phòng không chỉ thu hút nhà máy, mà đang hình thành một không gian vận hành chuỗi cung ứng thế hệ mới” - ông Trần Văn Thắng nêu quan điểm.

Cùng với đó, khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng với quy mô 20.000 ha đang mở ra một dư địa phát triển mới theo mô hình tăng trưởng xanh, tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ cảng biển và logistics hiện đại. Nói cách khác, thành phố đã và đang chuẩn bị sẵn một không gian mới cho những ngành công nghiệp mới, những nhà đầu tư mới và những tiêu chuẩn mới của giai đoạn tăng trưởng bứt phá.
Sau sáp nhập, Hải Phòng không chỉ “rộng hơn về địa giới” mà còn mạnh hơn về cấu trúc phát triển. Thành phố vừa có cực tăng trưởng hướng biển vừa có cực tăng trưởng phía Tây gắn với công nghiệp chiều sâu, logistics nội địa và không gian công nghiệp đổi mới sáng tạo.
Tuy vậy, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hải Phòng Trần Văn Thắng thẳng thắn nhận định: để trở thành tâm điểm thu hút đầu tư công nghiệp mới, Hải Phòng không thể chỉ dựa vào hạ tầng hay ưu đãi. Giai đoạn mới đòi hỏi ít nhất 3 chuyển dịch rất quan trọng.
Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư bằng mọi giá sang thu hút có chọn lọc, có chiều sâu và có giá trị lan tỏa. Thành phố cần trong giai đoạn mới những nhà đầu tư mang theo công nghệ, quản trị, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn xanh và khả năng kéo doanh nghiệp nội địa cùng tham gia chuỗi giá trị.
Thứ hai, chuyển từ mục tiêu tăng số lượng dự án sang mục tiêu nâng cấp chất lượng hệ sinh thái. Thành phố không chỉ quan tâm số lượng dự án FDI mà quan tâm đến việc gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, sự tham gia của doanh nghiệp trong nước trong chuỗi cung ứng, logistics thông minh…
Thứ ba, có giải pháp nâng tầm năng lực tổ chức chuỗi cung ứng một cách đồng bộ, hiệu quả và đáng tin cậy. Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh như hiện nay, chuỗi cung ứng toàn cầu chọn nơi an toàn, minh bạch, kết nối tốt hơn, có năng lực phản ứng nhanh hơn và có nền công nghiệp hỗ trợ đáng tin cậy hơn.

Bên cạnh đó, TP cần nhìn thẳng vào những thách thức để có giải pháp hiệu quả hơn trong việc giải bài toán nhân lực chất lượng cao, đặc biệt cho điện tử, bán dẫn, tự động hóa, dữ liệu, AI và sản xuất thông minh. Tiếp nữa, nâng cấp doanh nghiệp nội địa để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng FDI; cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, tăng tốc độ xử lý của TP. Cuối cùng là bài toán xanh hóa tăng trưởng để công nghiệp Hải Phòng mạnh lên theo hướng hiện đại, bền vững hơn.
Về phía Hiệp hội Doanh nghiệp TP, ông Trần Văn Thắng cho biết, Hiệp hội xác định tập trung vào phản biện chính sách, đào tạo, kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Đồng thời phát huy tối đa vai trò của 3 trung tâm chuyên biệt. Đó là, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, kết nối kinh doanh và pháp chế. Hiệp hội Doanh nghiệp TP luôn sẵn sàng đồng hành cùng các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong quá trình tìm hiểu, kết nối và triển khai đầu tư tại Hải Phòng.
CƠ HỘI BỨT PHÁ THU HÚT FDI CHẤT LƯỢNG CAO VÀ BÀI TOÁN THỂ CHẾ - HẠ TẦNG - NHÂN LỰC
Trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh thu hút đầu tư không còn nằm ở ưu đãi, mà nằm ở: chất lượng môi trường đầu tư; năng lực hạ tầng; và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là những nội dung trọng tâm được phân tích trong phiên thảo luận thứ nhất do TS. Mai Văn Sỹ, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Tư vấn thiết kế đầu tư Miền Duyên Hải điều phối.

Phát biểu đề dẫn, ông Nguyễn Cảnh Cường, Giảng viên chuyên gia, Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyên Tham tán Công sứ tại Bỉ - EU cho biết, thời kỳ các nhà đầu tư chỉ tìm kiếm lao động giá rẻ và những ưu đãi thuế đơn thuần đã khép lại. Thay vào đó, một thế hệ FDI mới đang đặt ra những câu hỏi hoàn toàn khác: nguồn nhân lực chất lượng cao đến đâu, hạ tầng có đáp ứng sản xuất hiện đại không, môi trường pháp lý có minh bạch và ổn định hay không, và quan trọng nhất - doanh nghiệp trong nước có thực sự tham gia được vào chuỗi cung ứng?

Những tiêu chí ấy đang trở thành thước đo cạnh tranh thực sự, khi các chiến lược như “China+1” hay tái cấu trúc chuỗi cung ứng đòi hỏi điểm đến không chỉ an toàn mà còn phải bền vững, có năng lực công nghệ và khả năng chống chịu.
Cùng với đó, phát triển bền vững không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện bắt buộc. Các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) giờ đây nằm ở trung tâm mọi quyết định đầu tư toàn cầu. Áp lực giảm phát thải, đảm bảo nguồn cung có trách nhiệm và xây dựng chuỗi giá trị xanh đang định hình lại dòng vốn.
“Điều đó vừa là thách thức lớn với những ngành sử dụng nhiều năng lượng và công nghệ lạc hậu, vừa mở ra cơ hội cho Việt Nam nếu biết tận dụng sớm. Câu hỏi đặt ra lúc này không còn là thu hút bao nhiêu dự án, mà là thu hút “đúng” dự án gì”, ông Cường cho biết.
Để đón bắt làn sóng FDI thế hệ mới, chuyên gia Nguyễn Cảnh Cường cũng đưa ra năm định hướng chính sách rất rõ ràng. Trước hết, Việt Nam phải chuyển từ thu hút đại trà sang thu hút có chọn lọc, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như công nghệ cao, bán dẫn, năng lượng tái tạo và công nghiệp số. Không phải mọi dòng vốn đều có giá trị như nhau, và mục tiêu phải là “tốt hơn” chứ không phải “nhiều hơn”.
Thứ hai, thay vì chạy đua ưu đãi thuế dàn trải, vốn đã bị vô hiệu hóa một phần bởi thuế tối thiểu toàn cầu, cần chuyển sang các chính sách hỗ trợ thông minh, gắn với nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ.
Thứ ba, phá bỏ rào cản liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, bởi đây chính là điểm yếu lớn nhất hiện nay, khiến sự lan tỏa về công nghệ và kỹ năng còn quá hạn chế.
Bên cạnh đó, theo ông Cường, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành ưu tiên hàng đầu, không thể chỉ dựa vào lao động phổ thông. Điều đó đòi hỏi đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục STEM, đào tạo nghề bài bản và hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp. Và cuối cùng, hạ tầng – đặc biệt là logistics, năng lượng và hạ tầng số – phải được phát triển đồng bộ, bởi không có điện ổn định, giao thông hiệu quả và kết nối số hiện đại, mọi lời mời gọi đầu tư đều trở nên vô nghĩa.
Tất cả những định hướng trên chỉ có thể thành công nếu chất lượng thể chế được nâng tầm. Nhà đầu tư thế hệ mới coi trọng sự minh bạch, tính nhất quán của pháp luật và khả năng dự báo chính sách hơn bất kỳ một ưu đãi ngắn hạn nào. Cải cách thủ tục hành chính, giảm rào cản, nâng cao hiệu quả thực thi không chỉ giúp Việt Nam hấp dẫn hơn, mà còn đáng tin cậy hơn trong mắt các tập đoàn đa quốc gia.
Việt Nam đã chứng minh bản lĩnh hội nhập, nhưng chặng đường phía trước không dành cho sự thỏa mãn với những thành quả gia công. Tận dụng vị trí địa lý, lao động năng động và mạng lưới quan hệ quốc tế rộng mở là chưa đủ. Bước ngoặt thực sự nằm ở quyết tâm chuyển đổi từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng lực.
“Nếu làm được điều đó, Việt Nam không chỉ hút thêm vốn – mà sẽ hút “đúng” loại vốn làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế. Nếu không, chúng ta mãi chỉ là điểm dừng chân trong hành trình tìm kiếm giá rẻ của dòng vốn toàn cầu. Sự lựa chọn, thực sự nằm ở những cải cách quyết liệt ngay hôm nay”, ông Cường kết luận.

Điều phối phiên thảo luận thứ nhất, TS Mai Văn Sỹ, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Tư vấn thiết kế đầu tư Miền Duyên Hải đặt câu hỏi: Singapore là một nước có nhà đầu tư FDI lớn nhất tại thời điểm hiện nay ở miền Bắc trong những lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, bất động sản công nghiệp và hạ tầng. Khu vực phía Bắc hiện nay đang thu hút mạnh các nhà đầu tư với hạ tầng phát triển nhanh chóng. Tại hội thảo hôm nay, ông Seck Yee Chung - Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Singapore chia sẻ một số vấn đề về những yêu cầu mà doanh nghiệp Singapore đang cần hiện nay khi đầu tư vào các khu công nghiệp hiện nay?
Trả lời cho câu hỏi này, ông Seck Yee Chung - Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Singapore tại Việt Nam cho biết, Singapore là một trong những nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay khi những bất ổn địa chính trị, thuế quan biến động, chiến tranh thương mại, giá dầu thay đổi,... thì điều quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư là xem xét liệu một địa điểm cụ thể, một quốc gia nào mang lại sự ổn định về chính trị, xã hội và kinh tế. Về khía cạnh này, ông Seck Yee Chung bày tỏ “tôi ghi nhận và bày tỏ sự trân trọng đối với sự lãnh đạo của Việt Nam, các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như ban lãnh đạo tại Singapore trong việc nỗ lực chứng minh cho cộng đồng các bên liên quan và doanh nghiệp thấy rằng, Việt Nam có sự ổn định, có cách thức để thích nghi, để kiên trì và tìm kiếm những cơ hội mới”.

Ông cũng cho biết, khi lựa chọn địa điểm đầu tư, có nhiều yếu tố tác động như cơ sở hạ tầng, năng lượng, giao thông,… tuy nhiên, tại thời điểm này, một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng là nguồn vốn con người. “Chúng tôi đã làm việc với rất nhiều nhà đầu tư, rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam và họ đều chỉ ra những điểm tích cực và đánh giá cao ở Việt Nam chính là nguồn vốn con người” – ông nói và thông tin thêm rằng Việt Nam rất tập trung vào giáo dục, từ việc học tiếng Anh cho trẻ em từ nhỏ, đến việc chú trọng vào khoa học và toán học... điều này đã giúp tạo ra một lực lượng lao động có thể mở rộng quy mô, nâng cao tay nghề, đào tạo lại và tạo ra giá trị gia tăng khi Việt Nam muốn tiến lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Khi nói về phát triển nguồn vốn con người, ngoài trường học và đào tạo, ông Seck Yee Chung cũng muốn nhấn mạnh đến việc tạo ra các khu đô thị tích hợp, nơi con người có thể sống, làm việc và vui chơi. Về cơ sở hạ tầng, chúng ta chắc chắn đã thấy rất nhiều sự cải thiện trong suốt 20 năm qua.
Ông Chu Việt Cường, đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, để đồng hành cùng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, nhiều hoạt động đã được triển khai đa dạng, phong phú, bao gồm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật; hỗ trợ đào tạo đội ngũ quản lý nhằm áp dụng các quy trình tiêu chuẩn quốc tế.

Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp (IDC) cũng được đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước và vốn ODA để trang bị các loại máy móc, thiết bị hiện đại, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng trong sản xuất, gia công, cũng như phục vụ kiểm định chất lượng, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm.
Các chương trình tư vấn, cải tiến sản xuất cũng được triển khai thông qua phối hợp với các chuyên gia đến từ các doanh nghiệp hàng đầu, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam cải thiện năng lực sản xuất. Tất cả các hoạt động này đều hướng tới mục tiêu giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI toàn cầu.
Theo ông Cường, thời gian qua, trình độ của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã được nâng lên đáng kể. Một số doanh nghiệp từng bước cải thiện năng lực, sẵn sàng cả về chi phí và máy móc, thiết bị để tham gia vào các khâu sản xuất có yêu cầu kỹ thuật cao hơn.
Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở các công đoạn đơn giản, giá trị gia tăng thấp. Hàng năm, các hoạt động hỗ trợ định hướng thị trường cho doanh nghiệp được triển khai như tổ chức các đoàn doanh nghiệp Việt Nam tham gia kết nối tại Nhật Bản, Hàn Quốc, UAE…; đồng thời thường xuyên tổ chức hội chợ, triển lãm quốc tế về công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam nhằm tăng cường giao lưu, kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, việc phối hợp với các Sở Công Thương để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong 5 lĩnh vực cũng được đẩy mạnh, qua đó giúp các doanh nghiệp FDI dễ dàng tìm kiếm đối tác phù hợp với nhu cầu.
Trong thời gian tới, ông Cường cho biết cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng đồng bộ, hiệu quả; trong đó trọng tâm là rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 205/2025/NĐ-CP của Chính phủ và triển khai thực chất Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Chương trình cần tập trung vào việc kết nối doanh nghiệp trong nước với các chuỗi cung ứng toàn cầu; hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất quốc tế; thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu công nghiệp quốc gia phục vụ quản lý và kết nối thị trường. Cùng với đó, cần nghiên cứu áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù như thành lập quỹ phát triển công nghiệp hỗ trợ, triển khai tín dụng ưu đãi dài hạn và cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp.
Chia sẻ tại phiên thảo luận, bà Nguyễn Thị Bích Dung - Phó Trưởng ban Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng (HEZA) thông tin, tại COP 26, Việt Nam đã cam kết thực hiện Netzero vào năm 2050. Hiện thực mục tiêu lớn, Chính phủ đã ban hành các Kế hoạch, chương trình, chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Thực hiện chỉ đạo, định hướng của Chính phủ, tại Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 29/01/2026 về chuyển đổi xanh, Hải Phòng xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Trong đó, thành phố đang đẩy mạnh lộ trình chuyển đổi các khu công nghiệp truyền thống sang mô hình khu công nghiệp sinh thái.

Trong 5 khu công nghiệp đang thực hiện thí điểm khu công nghiệp sinh thái theo dự án do Bộ Tài chính và UNIDO triển khai, có 2 khu công nghiệp trên địa bàn thành phố. Đó là tổ hợp DEEP C và khu công nghiệp Nam Cầu Kiền. Với việc tiên phong trong kinh tế tuần hoàn và năng lượng tái tạo, hai khu công nghiệp trên đang tiệm cận và đáp ứng tiêu chí của khu công nghiệp sinh thái. Bên cạnh phát triển công nghiệp, các khu công nghiệp đã đầu tư hệ thống theo dõi xả thải, kinh tế tuần hoàn…
Bà Nguyễn Thị Bích Dung cho biết them định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái dẫn dắt phát triển công nghiệp của thành phố. Hiện, khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng và khu kinh tế chuyên biệt vừa được Chính phủ có quyết định thành lập, việc thành lập các khu công nghiệp bên trong cũng định hướng phát triển thành các khu công nghiệp sinh thái.
Theo bà Nguyễn Thị Bích Dung, Hải Phòng hướng đến mục tiêu các khu công nghiệp không chỉ cung cấp mặt bằng sản xuất mà định hướng phát triển xanh trở thành yêu cầu sống còn, cấp thiết để doanh nghiệp trong khu công nghiệp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh của toàn cầu. Đồng thời, cung cấp "hộ chiếu xanh" để sản phẩm của các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ thông qua các tiêu chuẩn về Net Zero. Để thực hiện mục tiêu trên, HEZA tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn để các đơn vị cung cấp hạ tầng, doanh nghiệp thứ cấp nắm bắt chủ trương, chính sách của Trung ương và thành phố, hiện thực thành các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Với các khu công nghiệp đã hình thành, doanh nghiệp thứ cấp đã có thời gian hoạt động dài sẽ gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi theo mô hình sản xuất xanh, đại diện HEZA cho biết đã ghi nhận phản ánh của doanh nghiệp và có kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn.
Chia sẻ tại diễn đàn ông Aru David, Giám đốc Khu vực, ASSIST châu Á, cho rằng, trong khi dòng vốn FDI duy trì mức giải ngân kỷ lục với hơn một nửa tập trung vào khu vực phía Bắc, thì khả năng hấp thụ và vận hành dòng vốn ấy của thị trường lao động lại bộc lộ những vết nứt cấu trúc sâu sắc. Theo ông Aru David, đây không còn là câu chuyện của sự thiếu hụt lao động phổ thông, mà là sự lệch pha giữa kỳ vọng của nhà đầu tư về một nền sản xuất tinh gọn, bền vững với thực trạng của một lực lượng lao động phần lớn chưa được trang bị đầy đủ hành trang cho kỷ nguyên công nghiệp mới.

Bên cạnh đó, khoảng trống trong tầng quản lý trung cấp đang làm giảm hiệu quả vận hành của doanh nghiệp. Khảo sát của Japan External Trade Organization cho thấy hơn 60% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng vị trí này, dẫn đến phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài với chi phí cao. Nguy cơ càng trở nên hiện hữu hơn khi những tiêu chuẩn khắt khe về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) từ các thị trường khó tính như châu Âu dần trở thành tấm vé thông hành bắt buộc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đi tìm căn nguyên sâu xa của những điểm nghẽn ấy, ông Aru David cho rằng có thể nhận thấy một sự phân mảnh dai dẳng trong chính hệ thống đào tạo và cung ứng nhân lực. Những nỗ lực riêng lẻ từ phía nhà nước với các chương trình cải cách giáo dục nghề nghiệp, hay từ phía doanh nghiệp với các học viện nội bộ, dường như đều đang vận hành một cách biệt lập. Khoảng cách giữa giảng đường và nhà máy, giữa giáo án và yêu cầu thực tiễn của dây chuyền sản xuất thông minh vẫn chưa được san lấp.
Chính trong bối cảnh đó, ông cho biết vai trò của những “người điều phối hệ sinh thái” như tổ chức ASSIST trở nên có ý nghĩa quyết định. Thay vì chỉ cung cấp các khóa đào tạo rời rạc, mô hình “đồng kiến tạo hệ sinh thái kỹ năng” mà họ theo đuổi đang vẽ lại đường biên của sự hợp tác. Đó là một kiến trúc liên kết hữu cơ, nơi chương trình học được thiết kế dựa trên chính “đơn đặt hàng” khắt khe từ các tập đoàn công nghệ hàng đầu, được triển khai ngay trong lòng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, và được tiếp sức bởi nguồn lực từ các định chế tài chính quốc tế. Cách làm này đã phá vỡ thế bế tắc “đào tạo xong lại phải đào tạo lại”, đưa người học tiếp cận trực diện với hơi thở của thị trường lao động hiện đại.
Ông Trần Tiến Dũng, Chủ tịch Tập đoàn Macstar, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Logistics Việt Nam cho biết, việc phát triển hệ thống vận tải đường bộ trong những năm vừa qua đã đáp ứng rất tốt nhu cầu chuyển hàng. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào hiện tại mà không nhìn vào các số dự báo phát triển trong tương lai, thì đây là một thách thức vô cùng lớn.

Ông cũng thông tin, sản lượng hàng hóa thông qua khu vực phía Bắc, cụ thể là cụm cảng Hải Phòng, trong năm 2025 là trên 8 triệu TEU. Với tốc độ phát triển trên 10% mỗi năm trong nhiều năm, và kết quả mới nhất quý I/2024 tăng khoảng 13%, trong điều kiện kinh tế xã hội, kinh tế chính trị thế giới rất bấp bênh… nếu duy trì mức tốc độ đó, việc thu hút vốn FDI cũng như sự nỗ lực của các doanh nghiệp, dự kiến năm 2030 sản lượng thông qua cụm cảng Hải Phòng sẽ lên tới trên 13 triệu TEU. Đây là một con số cao hơn so với mức 8 triệu hiện nay, tăng trưởng trên 60%. Con số 13 triệu TEU là gần bằng mức mà các cảng tại khu vực Đông Nam Bộ như Cái Mép hay Sài Gòn đang làm hiện nay.
"Khi chúng ta nhìn vào các khu vực trên toàn quốc, chúng ta học hỏi lẫn nhau là làm thế nào để hàng hóa lưu thông thông suốt, hàng hóa đến đúng nơi, đúng thời điểm, giảm thiểu ùn tắc và rủi ro chậm trễ cho chủ hàng. Khu vực phía Bắc chúng ta phải học hỏi từ các đồng nghiệp ở khu vực phía Nam, đặc biệt là Đông Nam Bộ rất nhiều" - ông Dũng nói.
Cụ thể, các đồng nghiệp phía Nam trong những năm qua đã phát triển hệ thống vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển rất tốt, khi tuyến hành lang từ Cái Mép về các khu vực Đồng Nai, Bình Dương hay TP Hồ Chí Minh, sản lượng hàng hóa trung chuyển bằng đường thủy chiếm trên 90%... Cơ hội phát triển đường bộ không còn nhiều, chi phí phát triển hạ tầng đường bộ kết nối cũng vô cùng đắt đỏ, năng lực vận chuyển đường sắt tương đối hạn chế. Trong khi đó, Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển và khoảng 400.000 km đường thủy nội địa có thể khai thác.
Thời gian vừa qua, doanh nghiệp cũng đã triển khai một số tuyến dịch vụ kết nối đường thủy từ Hải Phòng đi Ninh Bình, Nghi Sơn (Thanh Hóa), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Chân Mây (Đà Nẵng). Kết quả thực tiễn rất tích cực, đặc biệt là về tiết kiệm chi phí.
Bên cạnh chi phí rẻ, vận tải đường thủy còn giúp giảm tiêu thụ nhiên liệu trên một đơn vị hàng hóa, giảm áp lực nhập khẩu nhiên liệu cho Nhà nước. Đặc biệt, vận tải đường thủy giúp giảm phát thải khí CO2 khoảng 70% so với đường bộ.
"Chúng tôi hiện đang kết hợp với Trường Đại học Hàng hải Việt Nam nghiên cứu thí điểm đóng mới các tàu ven biển chạy bằng điện với năng lực chở từ 550 đến 600 TEU. Khi đưa vào vận hành, chúng ta có thể đạt mức Net Zero theo đúng cam kết của chính phủ tại COP26" - ông nói. Việc giảm phát thải cũng là một lợi thế cạnh tranh để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài chất lượng cao, đặc biệt là từ châu Âu, nơi họ yêu cầu trung hòa carbon ngay từ bây giờ chứ không chờ đến năm 2050. "Tôi hy vọng rằng trong thời gian tới, với những ưu việt của vận tải đường thủy và đường ven biển, các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ tiếp tục ủng hộ để nhiều doanh nghiệp cùng chung tay đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực này, đóng góp vào sự phát triển bền vững của kinh tế vùng và cả nước" - ông Dũng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh toàn cầu: tiêu chuẩn ESG ngày càng khắt khe; công nghệ số phát triển nhanh. Doanh nghiệp không chỉ cần sản xuất hiệu quả, mà còn phải: thông minh hơn; xanh hơn và minh bạch hơn.

Điều phối viên thảo luận thứ hai, Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp cho biết thông qua các nội dung tại phiên 1, các diễn giả đã bàn về những tiềm năng, thế mạnh của khu vực phía Bắc. Những cam kết của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Công thương, Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng… với các nhà đầu tư và đặc biệt là có những chuyên gia đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến thể chế để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp Bắc Bộ nói chung trong thời gian tới.

"Với sự tham gia của các doanh nghiệp tại Phiên 2, sẽ có những kiến nghị rất quan trọng được đưa ra để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp Bắc Bộ nói chung, công nghiệp Hải Phòng trong thời gian tới" - Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng nhấn mạnh.
Ông Osamu Sudo, Phó Tổng giám đốc điều hành Amata Việt Nam cho biết, với hơn 50 năm kinh nghiệm phát triển, trong đó có hơn 30 năm hoạt động tại Việt Nam, chúng tôi đã tham gia phát triển các khu công nghiệp với vai trò tiên phong, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Ngay từ những ngày đầu, định hướng cốt lõi của chúng tôi là phát triển bền vững, gắn với quá trình chuyển đổi xanh. Đây là lĩnh vực vừa có nhiều thách thức, vừa mở ra không ít cơ hội, và cũng là trọng tâm trong các chiến lược phát triển của chúng tôi.

Trong bối cảnh các doanh nghiệp ngày càng ưu tiên tiêu chuẩn xanh, nếu không đáp ứng được các tiêu chí về khu công nghiệp sinh thái, việc thu hút đầu tư sẽ gặp nhiều hạn chế. Do đó, đây vừa là yêu cầu tất yếu, vừa mang lại lợi ích cho môi trường, cho nền kinh tế và cho cộng đồng địa phương, những yếu tố luôn được đặt lên hàng đầu trong quá trình phát triển dự án.
Về định hướng cụ thể, ông cho biết tập trung vào hai trụ cột chính: năng lượng và quản lý tài nguyên. Trong đó, năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng là những yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, quản lý tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước, đóng vai trò hết sức quan trọng. Khác với năng lượng có thể tạo ra bằng công nghệ, nguồn nước trong thực tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên, do đó cần được sử dụng một cách hiệu quả và bền vững để tránh gây tác động tiêu cực đến môi trường.
"Chúng tôi tin rằng những nỗ lực này sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển của kinh tế - xã hội, đặc biệt là thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam" - ông Osamu Sudo nói - "Tại Việt Nam, bên cạnh các dự án hiện hữu, chúng tôi đang tích cực tìm kiếm cơ hội mở rộng đầu tư tại khu vực phía Bắc. Chúng tôi nhận thấy khu vực phía Bắc đang có tốc độ phát triển hạ tầng rất nhanh, từ hệ thống đường bộ, cao tốc, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế cho đến đường sắt trong tương lai. Đây là những yếu tố quan trọng để chúng tôi lựa chọn địa điểm đầu tư chiến lược, đồng thời tối ưu hiệu quả hạ tầng và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương".
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, Việt Nam đặc biệt là khu vực phía Bắc, đã thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp công nghệ cao và sản xuất tự động hóa. "Chúng tôi kỳ vọng khu vực này sẽ trở thành trung tâm sản xuất tự động hóa trong thời gian tới.
Với định hướng phát triển xanh và bền vững, chúng tôi mong muốn góp phần xây dựng hệ sinh thái hạ tầng đồng bộ, giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động sản xuất, đồng thời tạo ra giá trị lâu dài cho nền kinh tế. Đây cũng là lý do chúng tôi xác định miền Bắc Việt Nam là khu vực chiến lược trong kế hoạch phát triển sắp tới" - ông Osamu Sudo khẳng định.
Ông Bạch Ngọc Tùng - Giám đốc công ty CP công nghệ xây dựng ACUD Việt Nam cho biết: hiện nay, nhiều dữ liệu thông tin đã được kết nối về một đầu mối. Trong đó, năm 2025 là năm bản lề xây dựng cơ sở dữ liệu của Việt Nam, bao gồm cơ sở dữ liệu quy hoạch và xây dựng với nhiều quy định mới. Với cơ sở dữ liệu này, chúng ta đã có điều kiện đủ, quan trọng hiện nay cần làm cơ sở dữ liệu sạch và sống.

Hiện ACUD đã xây dựng nền tảng quản lý bất động sản công nghiệp, số hoá cơ sở dữ liệu từ quy hoạch, thiết kế, thi công. Để đảm bảo dữ liệu sạch, công ty đã ứng dụng AI để phân tích. Trước đó, trên nền tảng quản lý bất động sản công nghiệp, công ty đã tạo các trường dữ liệu mà nhà đầu tư cần để thuận tiện cho việc tra cứu, tìm hiểu dữ liệu thông tin liên quan, phục vụ cho việc đưa ra các quyết định đầu tư. Tại diễn đàn, chúng tôi được nghe thông tin từ đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công thương) cho biết, trong thời gian tới sẽ số hoá 7.000 dữ liệu doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Tôi rất mong dữ liệu quan trọng này sẽ được có kết nối với hệ thống chung để tạo hệ sinh thái.
Dữ liệu tới đây đóng vai trò quan trọng, thay đổi xu hướng xúc tiến đầu tư các khu công nghiệp, để có dữ liệu sống, theo tôi, cần cơ chế để các nhà đầu tư cung cấp dữ liệu cùng một hệ thống, cơ quan chức năng quản lý trên cùng một hệ thống thì hệ thống đó được chứng nhận và được ưu tiên thẩm định online.
Ông Phạm Quốc Long, Phó Tổng giám đốc CTCP Gemadept, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ Hàng hải Việt Nam cho biết, khi dòng vốn đầu tư toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ về Việt Nam, ngành logistics nước nhà đứng trước cơ hội lịch sử để khẳng định vị thế. Tuy nhiên, theo ông Phạm Quốc Long, cơ hội ấy chỉ có thể được hiện thực hóa khi công nghệ được phát huy đúng tầm và hạ tầng kết nối được hoàn thiện đồng bộ.

Ông Long nhận định, cuộc chơi trong chuỗi cung ứng toàn cầu đã thay đổi căn bản. Nếu trước đây, lợi thế cạnh tranh nằm ở quy mô tài sản và hệ thống cảng, thì nay yếu tố quyết định lại là năng lực vận hành thông minh, khả năng quản trị dữ liệu và mức độ tích hợp trong toàn hệ sinh thái dịch vụ. Công nghệ không chỉ giúp doanh nghiệp logistics làm tốt hơn những việc quen thuộc, mà còn mở ra những năng lực hoàn toàn mới, từ tối ưu hóa chi phí, rút ngắn thời gian đến minh bạch hóa từng mắt xích trong chuỗi.
Thực tiễn tại Gemadept, đặc biệt ở khu vực miền Bắc, là minh chứng sinh động cho xu hướng này. Với hệ sinh thái tích hợp từ cụm cảng Nam Đình Vũ, Nam Hải ICD đến mạng lưới trung tâm phân phối trải dài khắp Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, doanh nghiệp này đã từng bước kết nối liền mạch chuỗi dịch vụ từ cảng biển đến tận nhà máy sản xuất.
Song song với đầu tư hạ tầng, việc ứng dụng mô hình Cảng thông minh, số hóa quy trình khai thác và triển khai chứng từ điện tử đã giúp năng suất vận hành tăng rõ rệt. Đáng chú ý, định hướng chuyển đổi xanh với thiết bị khai thác điện và năng lượng sạch không chỉ giúp Nam Đình Vũ đạt chứng nhận Cảng xanh mà còn đáp ứng ngày càng tốt hơn các tiêu chuẩn khắt khe từ khách hàng và hãng tàu quốc tế. Những nỗ lực ấy góp phần không nhỏ vào kết quả ấn tượng khi sản lượng container qua Hải Phòng năm 2025 ước đạt trên 8,2 triệu TEU, tăng hơn 10%.
Thế nhưng, theo ông Long, nỗ lực từ phía doanh nghiệp mới chỉ là “điều kiện cần”. Để ngành logistics Việt Nam thực sự cất cánh, “điều kiện đủ” nằm ở sự đồng bộ về hạ tầng kết nối quốc gia và chính sách hỗ trợ thiết thực. Ông chỉ ra những điểm nghẽn đang kìm hãm sức cạnh tranh của toàn chuỗi. Đầu tiên là tình trạng luồng kênh Hà Nam chưa được nâng cấp tương xứng với công suất cảng biển, buộc tàu lớn phải giảm tải trọng và đẩy chi phí logistics trên mỗi container tăng cao. Thứ hai, sự thiếu vắng một tuyến đường sắt kết nối hiệu quả từ cảng biển Hải Phòng sang Trung Quốc đang khiến vận tải đường bộ quá tải, làm gia tăng chi phí và suy giảm tính ổn định của chuỗi cung ứng. Cuối cùng, viễn cảnh về những khu thương mại tự do sẽ trở nên kém hấp dẫn nếu thiếu đi sự liên thông hạ tầng đồng bộ với các khu công nghiệp và trung tâm logistics phía sau.
Ông Đào Anh Thắng, Phó Tổng Giám đốc Phụ trách Khối Kinh doanh Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong cho biết, trong giai đoạn 2025 – 2035, chiến lược phát triển của nhựa Tiền Phong sẽ xoay quanh ba chữ cái là ESG.
Thứ nhất, môi trường (Environmental - Chữ E), nhựa Tiền Phong cam kết thực hiện chuyển đổi xanh toàn diện trong quy trình sản xuất giai đoạn 2025 - 2035 để đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra và các yếu tố bền vững.
Trong đó, tập trung vào ba vấn đề cốt lõi: Nguyên liệu đầu vào – doanh nghiệp thực hiện rà soát toàn bộ danh sách nhà cung cấp, ưu tiên các nhà sản xuất hàng đầu thế giới có cam kết ESG rõ ràng và các công ty đại chúng để đảm bảo nguồn nguyên liệu xanh và sạch. Sản phẩm tái chế - trong giai đoạn tới, doanh nghiệp ưu tiên phát triển các sản phẩm từ nhựa tái sinh.
Điển hình là sản phẩm bể tự hoại lắp ghép (dự kiến ra mắt năm 2026) sử dụng 100% nhựa tái sinh, phục vụ việc trữ nước và chống ngập úng cục bộ cho các đô thị. Sử dụng năng lượng và xử lý chất thải - kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng điện, nước và quy trình xử lý rác thải trong sản xuất.

Thứ hai, quản trị (Governance - Chữ G), doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và tự động hóa, phấn đấu đến năm 2030, toàn bộ hệ thống quản lý của Nhựa Tiền Phong sẽ vận hành trên nền tảng ERP; ứng dụng cánh tay robot trong các khâu cơ khí chính xác để tăng năng suất lao động, giảm tiêu hao nhiên liệu và giảm phát thải carbon.
Thứ ba, xã hội (Social - Chữ S), nhựa Tiền Phong hiện có hơn 1.500 lao động, Ban lãnh đạo cam kết không sa thải bất cứ nhân viên nào trong quá trình chuyển đổi số và tự động hóa. Thay vào đó, sẽ mở rộng thị trường và sản phẩm mới để điều chuyển nguồn lực dư thừa từ các khâu đã tự động hóa sang các lĩnh vực mới. Về hoạt động cộng đồng, doanh nghiệp sẽ tiếp tục duy trì chương trình “Cầu nối yêu thương”.
Tính đến nay, chương trình đã xây dựng được hơn 100 cây cầu dân sinh tại khắp các vùng miền trên cả nước, góp phần phát triển hạ tầng cho các vùng khó khăn. Nhựa Tiền Phong tự hào là đơn vị duy nhất trong ngành vật liệu nhựa xây dựng đạt được chứng chỉ “4 tích xanh” từ Hội đồng Công trình Xanh Singapore (Singapore Green Building Product). Đây là minh chứng cho cam kết của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và thị trường, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trước các doanh nghiệp FDI cũng như các đối tác trong nước trong bối cảnh thị trường ngày càng khắc nghiệt.
Chia sẻ tại phiên thảo luận, bà Nguyễn Linh Phương, Giám đốc Marketing toàn quốc NS BlueScope Việt Nam, chia sẻ thực tiễn sống động về hành trình ESG tại một trong những nhà máy thép mạ hàng đầu Đông Nam Á.
Với vị thế là nhà máy thép đầu tiên tại Việt Nam và Đông Nam Á đạt chứng nhận ResponsibleSteel, doanh nghiệp này đã đưa ngành công nghiệp nặng đầy thách thức của Việt Nam lên bản đồ trách nhiệm toàn cầu. Thành tựu ấy không đến từ những tuyên bố mà được đo đếm bằng từng tấn bùn thải được chuyển đổi, từng lít dung môi được tái sinh và từng mét khối nước mưa được giữ lại trong những bồn chứa khổng lồ.

Theo chia sẻ của bà Nguyễn Linh Phương, trong chiến lược Môi trường (E) của BlueScope chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ cao và nguyên lý tuần hoàn cơ bản. Việc đặt mục tiêu giảm 30% phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm vào năm 2030 không phải là tham vọng xa vời khi họ đã hiện thực hóa được 17,6% chặng đường.
Ở trụ cột Xã hội (S) và Quản trị (G), BlueScope xây dựng văn hóa an toàn không chỉ bằng kỷ luật và quy trình cứng nhắc, mà bằng sự cam kết và trách nhiệm tập thể, nơi người lao động được trao quyền phản biện thông qua hệ thống “Speak Up” bảo mật. Theo bà Phương, việc tích hợp tiêu chí ESG vào đánh giá chuỗi cung ứng từ năm 2019 cũng là một bước đi chiến lược, tạo ra một hệ sinh thái trách nhiệm đồng bộ thay vì chỉ “làm xanh” đơn lẻ.
Đại diện NS BlueScope cũng khẳng định, các sản phẩm tôn mạ cao cấp với công nghệ ACTIVATE không chỉ bền hơn, kéo dài vòng đời công trình mà còn là “tấm vé thông hành” giúp các chủ đầu tư logistics, điện tử đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của công trình xanh LEED.