Dù các kế hoạch thực thi cụ thể còn thiếu sót, làn sóng đầu tư vào công nghệ sạch tại khu vực châu Á lại đang vượt trội so với phần còn lại của thế giới.

Châu Á đang vươn lên trở thành tâm điểm của chiến dịch cam kết khí hậu toàn cầu, trong đó động lực chính đến từ sự gia tăng mạnh mẽ của các doanh nghiệp Trung Quốc. Làn sóng này diễn ra đúng vào thời điểm các mục tiêu đưa phát thải ròng về 0 (Net Zero) trên thế giới có dấu hiệu chững lại, thậm chí ghi nhận sự "quay xe" từ hàng loạt tập đoàn lớn tại Mỹ.
Theo báo cáo thường niên công bố hôm thứ Sáu của Net Zero Tracker - sáng kiến hợp tác giữa Đại học Oxford, Đơn vị Tình báo Năng lượng và Khí hậu (ECIU) cùng các đối tác, tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết tại Trung Quốc đặt mục tiêu Net Zero đã tăng từ 24% lên 28% so với năm ngoái. Tương tự, tỷ lệ công ty đưa ra cam kết cắt giảm phát thải ở bất kỳ mức độ nào cũng tăng từ 35% lên 42%.
Ở chiều ngược lại, bức tranh tại Mỹ lại mang màu sắc u tối. Tỷ lệ doanh nghiệp đặt mục tiêu Net Zero giảm nhẹ từ 52% xuống 51%. Số lượng đơn vị mới đăng ký cam kết không đủ bù đắp cho làn sóng rút lui, trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Donald Trump gia tăng sức ép phản đối các chính sách ứng phó biến đổi khí hậu.
Nhận định về hiện tượng này, ông Takeshi Kuramochi, Giám đốc Trung tâm Trí tuệ về Hành động, Khả năng chống chịu và Tính toàn vẹn khí hậu thuộc Đại học Tokyo, cho biết: “Trung Quốc dường như đang bước vào giai đoạn đỉnh phát thải, mở ra thời điểm lượng phát thải CO2 bắt đầu quay đầu đi xuống. Đây có thể là động lực thúc đẩy ngày càng nhiều doanh nghiệp nước này công bố các mục tiêu khí hậu.”
Net Zero Tracker hiện giám sát cam kết của hơn 4.000 chính phủ, thành phố và doanh nghiệp. Tổ chức này không chỉ đánh giá độ phủ mà cả tính thực chất của cam kết dựa trên lộ trình triển khai và phạm vi phát thải được kiểm soát.
Trên quy mô toàn cầu, trong số 1.957 doanh nghiệp niêm yết thuộc danh sách Forbes Global 2000 được theo dõi, 64% đã thiết lập mục tiêu Net Zero năm nay, gần như giậm chân tại chỗ so với năm 2025. Số trường hợp từ bỏ hoàn toàn mục tiêu dài hạn dù chưa nhiều nhưng tập trung chủ yếu tại Mỹ, đặc biệt ở khối tài chính.
Sự phẳng lặng của con số thống kê toàn cầu vô tình che đậy sự phân hóa gay gắt giữa các khu vực: bản đồ cam kết khí hậu đang tái cấu trúc khi làn sóng hoài nghi chính sách xanh dâng cao tại phương Tây.
Dữ liệu do Sáng kiến Mục tiêu dựa trên cơ sở khoa học (SBTi) công bố hồi tháng 4 cho thấy số doanh nghiệp châu Á sở hữu mục tiêu giảm phát thải chuẩn hóa khoa học đã tăng tới 53% trong năm 2025 (đạt 3.513 đơn vị) - tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Riêng Trung Quốc ghi nhận số lượng doanh nghiệp tham gia tăng gần gấp đôi, bên cạnh sự bứt phá đáng kể từ Nhật Bản và Ấn Độ.
Đáng chú ý, đà tăng cam kết trên giấy tờ tại Trung Quốc diễn ra song hành với dòng vốn đầu tư ồ ạt vào các ngành công nghiệp sạch.
Theo báo cáo từ Mission Possible Partnership (MPP), Trung Quốc chiếm tới 23 trong tổng số 36 dự án khử carbon sâu ở quy mô thương mại đạt quyết định đầu tư cuối cùng (FID) trên toàn cầu trong 12 tháng qua (bao gồm các lĩnh vực tiên phong như sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững và amoniac xanh). Dù chỉ nắm 1/5 tổng số 838 dự án trong danh mục theo dõi của MPP, Trung Quốc lại đóng góp gần một nửa số dự án vượt qua được "cửa ải" đầu tư quyết định để đi vào thực địa.
Song song đó, quốc gia này đang tận dụng thế mạnh công nghệ xanh trong nước để giành vị thế dẫn dắt lớn hơn trên mặt trận ngoại giao khí hậu - xu hướng được dự báo sẽ bùng nổ tại Hội nghị COP năm nay với trọng tâm bàn thảo về điện khí hóa.
Dù đạt tiến triển nhanh, nếu xét về độ bao phủ toàn diện, khối doanh nghiệp Trung Quốc vẫn bỏ lại một khoảng trống lớn so với các nền kinh tế phát triển:
Thứ nhất là tỷ lệ chưa cam kết: 58% doanh nghiệp Trung Quốc chưa hề có bất kỳ mục tiêu giảm phát thải nào, trong khi tỷ lệ này tại Mỹ là 22% và phần còn lại của thế giới chỉ 9%.
Thứ hai là độ bao phủ doanh thu: Các mục tiêu Net Zero hiện bao trùm gần như toàn bộ doanh thu của các doanh nghiệp được theo dõi tại Nhật Bản, Anh và EU; trong khi con số này tại Trung Quốc mới chạm mốc 40%.
Thứ ba là chất lượng kế hoạch: Nhiều cam kết mới của doanh nghiệp Trung Quốc chỉ đơn thuần rập khuôn theo mục tiêu quốc gia (đạt trung hòa carbon vào năm 2060) thay vì tự xây dựng lộ trình giảm phát thải riêng.
Dữ liệu Net Zero Tracker cho thấy, chỉ 17% doanh nghiệp Trung Quốc vừa đưa ra mục tiêu Net Zero vừa công bố lộ trình thực hiện cụ thể. Tỷ lệ tương ứng tại Mỹ là 35% và tại EU lên tới 68%.
Tuy nhiên, chuyên gia Takeshi Kuramochi cũng lưu ý rằng việc đánh giá Trung Quốc qua con số thuần túy có thể dẫn đến cái nhìn phiến diện. Tại Trung Quốc, ngay cả khi không tuyên bố mục tiêu riêng, các doanh nghiệp vẫn chịu sự điều phối khắt khe từ hệ thống chỉ tiêu quốc gia. Do đó, một công ty chưa công bố cam kết công khai không đồng nghĩa với việc họ đứng ngoài cuộc đua giảm phát thải.
Không nằm ngoài xu hướng chung của châu Á, Việt Nam cũng đang từng bước hòa mình vào làn sóng chuyển dịch xanh, đặc biệt sau cam kết mạnh mẽ đạt Net Zero vào năm 2050 tại hội nghị COP26. Giống như mô hình điều phối từ trên xuống tại Trung Quốc hay sự gia tăng tiêu chuẩn ở các quốc gia láng giềng, động lực cắt giảm phát thải tại Việt Nam hiện đang được thúc đẩy chủ yếu từ hành lang pháp lý quốc gia và các định hướng quy hoạch năng lượng dài hạn.
Tuy nhiên, khác với Trung Quốc – quốc gia sở hữu dòng vốn ồ ạt và thế mạnh công nghệ nội địa, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhóm nhỏ và vừa (SMEs), gặp nhiều khó khăn về chi phí chuyển đổi công nghệ xanh.
Ngoài ra, động lực lớn nhất thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi xanh hiện nay đến từ áp lực tái cấu trúc của các thị trường xuất khẩu lớn (như tiêu chuẩn CBAM của EU hay yêu cầu ESG từ các tập đoàn đa quốc gia).
Nhìn chung, dù còn tồn tại khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực triển khai thực tế, nhưng việc Việt Nam chủ động tích cực tham gia vào bản đồ cam kết khí hậu toàn cầu đang góp phần củng cố vị thế của châu Á như một động lực chính cho công cuộc chuyển dịch năng lượng trong giai đoạn mới.