Thay đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”, tập trung vào giá trị tuần hoàn và chế biến sâu chính là chìa khóa để kiến tạo không gian phát triển mới cho ngành.

Phát biểu đề dẫn cho phiên Thảo luận của Diễn đàn Nông nghiệp 2026: “Kiến tạo không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp Việt Nam" do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều ngày 16/7, ThS Ngô Xuân Chinh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam cho rằng, nền nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý lớn: trong khi năng suất của các loại cây trồng chủ lực đã chạm ngưỡng “kịch trần” so với thế giới, thì tỷ lệ thất thoát và sự lãng phí tài nguyên vẫn ở mức báo động.
Ông cho biết hiện nay năng suất các loại cây trồng tại Việt Nam như cà phê, hồ tiêu và lúa gạo gần như đã đạt mức cao nhất trên bình diện quốc tế.
Tuy nhiên, theo ông để gia tăng thêm dù chỉ 1% năng suất, ngành nông nghiệp phải đánh đổi bằng một lượng chi phí vật chất khổng lồ từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến nhân công lao động. Đây là một bài toán kinh tế kém hiệu quả khi đầu vào tăng cao nhưng đầu ra lại bị bào mòn bởi những yếu tố quản trị yếu kém.
Điểm đáng lưu ý trong nhận định của ThS Ngô Xuân Chinh là sự mất mát giá trị sau thu hoạch. Ông cho rằng hiện nay chúng ta đang để thất thoát từ 15% đến 20% giá trị sản phẩm do quá trình thu hoạch không đảm bảo hoặc công nghệ chế biến không phù hợp. Điều này cho thấy nông nghiệp Việt Nam đang rơi vào tình trạng “vắt kiệt” đất đai và nguồn lực để lấy năng suất nhưng lại để rơi rớt giá trị ngay trên sân nhà. Việc chuyển đổi từ tư duy sản xuất thuần túy sang kinh tế tuần hoàn, tập trung vào chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm là con đường bắt buộc.

Kinh tế tuần hoàn không còn là một khái niệm xa lạ mà đã trở thành yêu cầu sống còn nếu nông sản Việt muốn tiến xa. ThS Ngô Xuân Chinh khẳng định mục tiêu của kinh tế tuần hoàn là không để bất cứ thứ gì mất đi trong quá trình sản xuất nhằm gia tăng tối đa giá trị sản phẩm.
Một ví dụ điển hình được ông nêu ra là mô hình trang trại Phong Thúy tại tỉnh Lâm Đồng. Với diện tích liên kết khoảng 500 ha, toàn bộ phụ phẩm nông nghiệp tại đây được đưa vào chế biến làm thức ăn chăn nuôi hoặc sản xuất phân bón, tạo thành một chu trình khép kín không rác thải.
Bên cạnh đó, áp lực từ thị trường quốc tế đang buộc nông dân và doanh nghiệp phải thay đổi. ThS Ngô Xuân Chinh dẫn chứng về quy định của châu Âu đối với cà phê và hồ tiêu: nếu không chứng minh được nguồn gốc, chứng minh không gây mất rừng, sản phẩm sẽ bị từ chối xuất khẩu. Ngoài ra, các chương trình lớn như “1 triệu ha lúa phát thải thấp” đang hướng tới mục tiêu đến năm 2028, người nông dân có thể bán tín chỉ carbon trên chính cánh đồng của mình, tạo thêm một dòng thu nhập mới ngoài hạt gạo.
Dù có tiềm năng lớn, nhưng hạ tầng logistics đang là “hòn đá tảng” chặn đường nông sản. ThS Ngô Xuân Chinh thẳng thắn chỉ ra thực trạng yếu kém của hạ tầng nông thôn kéo theo chi phí xăng dầu và khấu hao tăng cao, trực tiếp làm giảm sức cạnh tranh của giá nông sản.
Sự thiếu hụt chuỗi cung ứng lạnh cũng là một khiếm khuyết lớn. Đối với các mặt hàng tươi sống như trái cây, rau hoa, chuỗi cung ứng lạnh là yếu tố then chốt nhưng hiện chưa được đầu tư căn bản. Điều này khiến nông sản tươi của Việt Nam gặp khó khăn khi tiếp cận các thị trường xa, buộc doanh nghiệp phải chuyển hướng sang chế biến sâu các sản phẩm như khoai lang hấp, đậu nành để giảm bớt rào cản về logistics.
Một trong những khó khăn cốt lõi khiến doanh nghiệp e dè khi đầu tư vào nông nghiệp là vấn đề đất sạch. ThS Ngô Xuân Chinh cho biết số lượng doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực này vẫn rất hạn chế do khó khăn trong tích tụ đất đai. Doanh nghiệp thiếu quỹ đất quy mô đủ lớn để xây dựng nhà máy chế biến hoặc vùng nguyên liệu tập trung.
Nghịch lý nằm ở chỗ, tại một số địa phương miền Bắc như Hà Nam (cũ), Thái Bình (cũ), người dân bỏ ruộng rất nhiều, nhưng doanh nghiệp muốn vào sản xuất quy mô lớn lại vướng cơ chế. Từ thực trạng này, ThS Ngô Xuân Chinh đề xuất Nhà nước cần đóng vai trò cầu nối, thành lập “Ngân hàng đất đai”. Theo đó, Nhà nước đứng ra thuê lại đất của dân, tích tụ thành quỹ đất sạch rồi cho các doanh nghiệp nông nghiệp thuê lại, tương tự như mô hình các khu công nghiệp cao. Đây là giải pháp để giải phóng nguồn lực đất đai đang bị lãng phí.
Tiếp cận vốn vẫn là một “cửa ải” gian nan đối với người nông dân và doanh nghiệp. Mặc dù có nhiều gói vay nông nghiệp được giới thiệu, nhưng thực tế để đủ hồ sơ vay vốn là cả một vấn đề lớn. ThS Ngô Xuân Chinh kiến nghị Chính phủ cần thiết lập hạn mức tín dụng riêng cho nông nghiệp phát thải thấp với lãi suất ưu đãi, thấp hơn từ 1,5% đến 2% so với thương mại. Thời gian vay cũng cần linh hoạt, kéo dài từ 10 đến 15 năm để phù hợp với chu kỳ hồi vốn của các dự án chế biến sâu và hạ tầng bền vững.
"Đặc biệt, cần thay đổi cơ chế thế chấp. Hiện nay, ngân hàng chủ yếu chỉ định giá đất, trong khi các tài sản trên đất có giá trị cao như nhà màng (nhà kính, nhà lưới có vốn đầu tư lên tới hàng tỷ đồng mỗi ha) lại không được chấp nhận làm tài sản thế chấp", ThS Ngô Xuân Chinh nhấn mạnh.
Bên cạnh vốn, sự khác biệt trong tư duy sản xuất giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng được ThS Ngô Xuân Chinh đặt lên bàn cân. Ông quan sát thấy người nông dân Thái Lan tuân thủ quy trình rất tốt, trong khi người dân Việt Nam lại hay “phát minh” ra các quy trình riêng. Việc mỗi tỉnh, mỗi hộ làm một kiểu dẫn đến sự không đồng nhất về chất lượng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, làm suy giảm uy tín nông sản quốc gia.

Để tháo gỡ những nút thắt trên, ThS Ngô Xuân Chinh đề xuất Nhà nước phải đóng vai trò trọng tài trong các liên kết chuỗi. Thực tế hiện nay liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân vẫn rất lỏng lẻo, thường xuyên xảy ra tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá thị trường biến động.
Công tác quản lý mã số vùng trồng cũng cần được cải thiện. ThS Ngô Xuân Chinh cho biết việc chậm trễ đôi khi không nằm ở phía Việt Nam mà do phía đối tác như Trung Quốc mất nhiều thời gian rà soát. Do đó, Chính phủ cần có những thảo luận cấp cao để rút ngắn thời gian công nhận mã số vùng trồng, tạo điều kiện cho thông quan thuận lợi.
Cuối cùng, việc ứng dụng công nghệ số và cơ giới hóa là không thể trì hoãn. ThS Ngô Xuân Chinh đánh giá cao tốc độ ứng dụng máy bay không người lái (drone) trong canh tác lúa tại Việt Nam, giúp cơ giới hóa đạt gần 99% ở một số khâu. Tuy nhiên, để nông nghiệp thực sự chuyển mình, cần có sự kết hợp đồng bộ giữa chính sách đất đai, tín dụng ưu đãi và sự bảo hộ thương hiệu từ phía Nhà nước trên trường quốc tế.