Chính trị - Xã hội

Nghiên cứu cơ bản - "bệ phóng" của nền kinh tế tri thức

Trương Khắc Trà 09/07/2026 03:14

Một trong những dấu ấn đáng chú ý của chính sách khoa học năm 2026 là việc Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (PEBR).

nhan-luc-chat-luong-cao-01052025-02.jpg
Nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: VGP

Trong nhiều năm, Việt Nam phát triển chủ yếu dựa vào thu hút FDI, tiếp nhận công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học từ bên ngoài. Mô hình này tạo động lực tăng trưởng nhanh nhưng dần bộc lộ giới hạn khi nền kinh tế hướng tới những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

Do vậy, nhiều chủ trương của Đảng và Chính phủ đã đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc khoa học cơ bản không còn được nhìn nhận là lĩnh vực chỉ tiêu tốn ngân sách, mà trở thành khoản đầu tư chiến lược để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.

GS, TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), nhấn mạnh: “Mọi đột phá công nghệ đều được xây dựng trên nền tảng tri thức được tích lũy qua nhiều năm trong các phòng thí nghiệm và trường đại học nghiên cứu. Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, trước hết phải làm chủ tri thức nền tảng. Muốn có công nghệ mạnh, phải có khoa học cơ bản mạnh”.

Điểm đáng chú ý nhất của Chương trình PEBR không nằm ở quy mô kinh phí mà ở sự thay đổi trong triết lý đầu tư. Thay vì tài trợ các đề tài riêng lẻ kéo dài 2-3 năm, chương trình chuyển sang đầu tư theo cụm nhiệm vụ và chuỗi nghiên cứu kéo dài 5- 10 năm nhằm hình thành các nhóm nghiên cứu xuất sắc, đủ năng lực theo đuổi những bài toán khoa học lớn và tạo ra các nền tảng công nghệ cho tương lai.

Thực tế cho thấy, từ AI, bán dẫn, công nghệ sinh học đến vật liệu mới, mọi cuộc cách mạng công nghệ đều khởi nguồn từ những nghiên cứu nền tảng. Vì vậy, đầu tư cho khoa học cơ bản không chỉ nhằm gia tăng số lượng công bố quốc tế mà còn hướng đến mục tiêu dài hạn hơn: xây dựng năng lực tự chủ công nghệ, nâng cao năng suất và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Ngày nay, các tập đoàn công nghệ toàn cầu lại quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nguồn nhân lực, sức mạnh của các trường đại học nghiên cứu, hệ thống phòng thí nghiệm và năng lực đổi mới sáng tạo của quốc gia sở tại. Họ không chỉ tìm nơi để đặt nhà máy, mà còn tìm nơi có thể đặt trung tâm R&D và cùng tạo ra công nghệ mới.

GS, TS Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng: “Việt Nam có thể mua thiết bị hoặc tiếp nhận công nghệ, nhưng không thể mua được năng lực sáng tạo công nghệ. Muốn làm chủ công nghệ lõi, phải làm chủ tri thức nền tảng”.

Đó cũng chính là tinh thần bao quát của Nghị quyết 10-NQ/TW khi chuyển trọng tâm từ thu hút FDI bằng số lượng sang lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, khả năng lan tỏa tri thức và gắn kết với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước.

Điều quan trọng hơn là đầu tư vào nơi sản sinh tri thức. Toán học, vật lý, hóa học, sinh học hay khoa học máy tính không chỉ tạo ra các công trình nghiên cứu mà còn đào tạo đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư và những ý tưởng sẽ trở thành nền tảng của các ngành công nghệ chiến lược trong tương lai.

Nói cách khác, nếu các khu công nghiệp tạo ra năng lực sản xuất thì khoa học cơ bản tạo ra năng lực sáng tạo. Khi hệ thống nghiên cứu nền tảng đủ mạnh, Việt Nam không chỉ có cơ hội sở hữu nhiều công nghệ “Made in Vietnam” hơn mà còn trở thành điểm đến của dòng FDI chất lượng cao.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Nghiên cứu cơ bản - "bệ phóng" của nền kinh tế tri thức
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO