Trong bối cảnh toàn cầu hóa, số hóa di sản được cho không chỉ góp phần bảo tồn di sản hiệu quả hơn, mà còn mở ra cơ hội kết nối di sản với giáo dục, du lịch văn hóa, truyền thông sáng tạo và kinh tế tri thức.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tập trung chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái sáng tạo và kỳ vọng đóng góp 7% GDP vào năm 2030.

Cụ thể, Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và đóng góp 7% GDP của đất nước. Lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa bình quân tăng 10%/năm, chiếm tỷ trọng 6% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế.
Phấn đấu phần lớn các trung tâm công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, khu công nghiệp văn hóa, trung tâm, tổ hợp, khu phức hợp không gian sáng tạo được quy hoạch đồng bộ, đầu tư hiện đại, khai thác các giá trị đặc sắc, độc đáo, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm của địa phương, quốc gia.
Đến năm 2045, phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển bền vững, trong đó doanh thu đóng góp 9% GDP của đất nước, lao động chiếm tỷ trọng 8% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế, quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa, tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành công nghiệp văn hóa đạt 9%/năm và trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trong khu vực Châu Á.

Công nghiệp văn hóa với khả năng chuyển hóa bản sắc, sáng tạo và trí tuệ con người thành giá trị kinh tế cụ thể, đang trở thành động lực mới cho tăng trưởng bền vững, định vị thương hiệu quốc gia và khơi dậy nội lực sáng tạo trong xã hội…
Đáng nói, Việt Nam với bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến và hàng nghìn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể có giá trị, nếu biết “đánh thức”, kết nối và tận dụng hợp lý, di sản sẽ trở thành “vốn quý” để phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Nhiều ý kiến cho rằng, trong bối cảnh kinh tế sáng tạo, kinh tế số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, số hóa di sản được cho không chỉ góp phần bảo tồn di sản hiệu quả hơn, mà còn mở ra cơ hội kết nối di sản với giáo dục, du lịch văn hóa, truyền thông sáng tạo và kinh tế tri thức.
Theo PGS TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, di sản văn hóa đang đứng trước nhiều cơ hội để được bảo vệ, lan tỏa và phát huy giá trị theo những phương thức mới.
Vị này cho rằng, từ Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 đều khẳng định vai trò của công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức số trong việc nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Hiện nay, nhiều bảo tàng, thư viện, trung tâm lưu trữ, khu di tích và thiết chế văn hóa đã từng bước ứng dụng công nghệ số vào số hóa hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo và các nền tảng tương tác số nhằm mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, đặc biệt là giới trẻ.
“Chuyển đổi số không chỉ góp phần bảo tồn di sản hiệu quả hơn mà còn mở ra cơ hội kết nối di sản với giáo dục, du lịch văn hóa, truyền thông sáng tạo và kinh tế tri thức”, PGS TS Lâm Nhân nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, một số ý kiến cũng cho hay, kho tàng di sản văn hóa Việt Nam không chỉ là tài sản tinh thần giúp gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò trong nền kinh tế quốc gia, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ là bước đột phá quan trọng không chỉ đối với phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần thúc đẩy tiến bộ văn hóa.
Theo các chuyên gia, ngành di sản hiện không còn đứng trước lựa chọn “có chuyển đổi số hay không”, mà là chuyển đổi như thế nào để vừa bảo tồn được giá trị cốt lõi của di sản, vừa tạo ra động lực mới cho giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa. Và yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu di sản đồng bộ, liên thông giữa các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, du lịch và công nghệ được xem là điều kiện quan trọng để di sản Việt Nam không chỉ được lưu giữ trong không gian số mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế sáng tạo và nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.