Chính trị

Nghị quyết 68-NQ/TW và hành trình kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Diễm Ngọc 13/05/2026 14:06

Hàng loạt chính sách mới được ban hành sau Nghị quyết 68-NQ/TW đang mở ra kỳ vọng về bước ngoặt phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68), đã có nhiều chuyển biến quan trọng cả về chính sách và thực tiễn. Với tinh thần lấy doanh nghiệp làm trung tâm, kiến tạo phát triển và khơi thông các nguồn lực để phát triển khu vực tư nhân, Nghị quyết 68 đã và đang tạo ra động lực mới cho nền kinh tế.

kttn.jpeg
Sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68), đã có nhiều chuyển biến quan trọng cả về chính sách và thực tiễn

Bước ngoặt cải cách kinh tế tư nhân

Kể từ khi Nghị quyết 68 được ban hành, hàng loạt chính sách quan trọng liên quan đến môi trường đầu tư kinh doanh đã liên tiếp được triển khai. Ngày 17/5/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, được xem là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo. Cùng ngày, Chính phủ ban hành Nghị quyết 139/NQ-CP để triển khai nghị quyết này.

Tiếp đó, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, tiếp tục ghi dấu bằng việc cắt giảm mạnh danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện xuống còn 199 ngành nghề từ ngày 1/7/2026, đồng thời chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Sang năm 2026, Nghị quyết 02/NQ-CP tiếp tục đặt mục tiêu cải thiện đồng bộ môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn, đồng thời yêu cầu rà soát để loại bỏ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện không còn cần thiết.

Trong khi đó, Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa đổi chính sách thuế đối với hộ và cá nhân kinh doanh cũng tạo ra tác động đáng kể khi nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 1 tỷ đồng/năm, mở rộng diện hưởng lợi cho hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ.

Phát biểu tại Tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW” do Tạp chí Đầu tư Tài chính tổ chức ngày 13/5, TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) khẳng định Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân có thể được xem là một Nghị quyết mang tính dấu mốc, thậm chí có thể dùng từ “vĩ đại”, bởi nó tạo ra sự chuyển biến thực sự mới, một nhận thức mới, một động lực mới và một quyết tâm mới để đưa đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường hiện đại.

6653d4a270b0f1eea8a1.jpg
TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) khẳng định, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân có thể được xem là một Nghị quyết mang tính dấu mốc, tạo ra sự chuyển biến thực sự mới, nhận thức mới, động lực mới...

Tuy nhiên, điều cần quan tâm hiện nay là sau một thời gian triển khai, chính sách đã chuyển động ra sao trong thực tế và những vấn đề nào đang đặt ra để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực phát triển của nền kinh tế. TS Lê Minh Nghĩa cũng nhắc tới mục tiêu được nêu trong Nghị quyết là đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp và đến năm 2045 có 3 triệu doanh nghiệp, nhưng nếu đặt trong tương quan quốc tế, con số này vẫn còn khá khiêm tốn.

“Hiện nay, bình quân thế giới cứ 9 người thì có 1 doanh nghiệp; Hàn Quốc khoảng 6,6 - 6,7 người/doanh nghiệp; Singapore khoảng 10 người/doanh nghiệp; Thái Lan khoảng 22 người/doanh nghiệp và Trung Quốc khoảng 24 người/doanh nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam hiện ở mức khoảng 100 người mới có một doanh nghiệp. Theo mục tiêu đặt ra, đến năm 2030 tỷ lệ này giảm còn khoảng 50 người/doanh nghiệp và đến năm 2045 là khoảng 33 người/doanh nghiệp”, TS Lê Minh Nghĩa nêu.

Về vấn đề này, TS Nguyễn Đình Cung, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương chia sẻ mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp là mục tiêu rất rõ ràng và hoàn toàn có thể đo lường được. Tuy nhiên cần tiếp tục cải cách điều kiện kinh doanh, trong đó, cắt giảm một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện mới chỉ là bước đầu. Nếu thực sự cải cách triệt để thì phải đồng thời bãi bỏ các điều kiện kinh doanh nằm trong nghị định, thông tư và các quy định chuyên ngành phía dưới.

“Đặc biệt, cần rà soát lại toàn bộ danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phân loại rõ lĩnh vực nào thực sự cần quản lý, lĩnh vực nào có thể chuyển sang hậu kiểm, từ đó tiếp tục cắt giảm thêm ít nhất một phần ba số điều kiện hiện hành. Tinh thần xuyên suốt phải là bảo đảm quyền tự do kinh doanh đúng như Hiến pháp quy định.

Thêm vào đó, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững thì phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nếu xác định đây là động lực phát triển chính thì cả nhà nước lẫn tư nhân đều phải dồn nguồn lực thực sự cho lĩnh vực này”, TS Nguyễn Đình Cung đề xuất.

Chính sách dài hơi cho công nghệ cao

Đồng quan điểm về tập trung cho phát triển khoa học công nghệ, TS Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế cũng nhắc tới quỹ phát triển khoa học công nghệ quy mô khoảng 500 tỷ đồng nhưng giải ngân chậm do điều kiện và thủ tục còn khá chặt chẽ. Theo ông, Việt Nam hiện không thiếu doanh nhân và kỹ sư có năng lực, cũng không thiếu khát vọng phát triển công nghiệp công nghệ cao. Điều còn thiếu là một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh về vốn, nhân lực, công nghệ và cơ chế chia sẻ rủi ro để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

391a51d607cb8695dfda.jpg
Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Việt Nam cần thêm những doanh nghiệp như VinFast, điều quan trọng nhất không chỉ là vốn, mà là một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ gồm tín dụng dài hạn, chính sách công nghiệp, đào tạo nhân lực và môi trường pháp lý ổn định

Ông lấy ví dụ trong lĩnh vực ô tô, công nghệ hay điện tử, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có khả năng tham gia sâu hơn nếu được tạo điều kiện phù hợp. Nhiều người từng cho rằng Việt Nam khó có thể xây dựng được một doanh nghiệp ô tô có năng lực cạnh tranh quốc tế trong vòng 7-10 năm. Tuy nhiên, VinFast đã cho thấy doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có thể đi nhanh hơn dự báo nếu có khát vọng lớn và nguồn lực đủ mạnh.

“Vì vậy, Việt Nam cần thêm những doanh nghiệp như VinFast, điều quan trọng nhất không chỉ là vốn, mà là một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ gồm tín dụng dài hạn, chính sách công nghiệp, đào tạo nhân lực và môi trường pháp lý ổn định. Việc phát triển công nghiệp công nghệ cao là câu chuyện dài hạn, đòi hỏi sự kiên trì và chấp nhận rủi ro, thay vì chỉ nhìn vào hiệu quả ngắn hạn”, ông Nghĩa nhấn mạnh.

Nhìn lại một năm triển khai Nghị quyết 68, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng dấu ấn lớn nhất nằm ở sự chuyển biến rõ rệt trong tư duy điều hành và định hướng chính sách. Hàng loạt Nghị quyết, văn bản pháp luật và cơ chế hỗ trợ đã nhanh chóng được ban hành để cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết 68. Ngay sau đó, Quốc hội và Chính phủ tiếp tục đưa ra nhiều quyết sách nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực thi, xử lý vướng mắc pháp lý và điều chỉnh quy định theo hướng cởi mở hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Đây chính là tác động đáng kể nhất mà Nghị quyết mang lại trong thời gian qua.

Ngay ở giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo ra tâm lý kỳ vọng lớn trong cộng đồng doanh nghiệp tư nhân, với niềm tin về khả năng xuất hiện một bước ngoặt chính sách mới. Tuy nhiên, theo quan sát thực tế, sự lạc quan này hiện tập trung nhiều hơn ở nhóm doanh nghiệp quy mô lớn.

“Thời gian qua, hàng loạt dự án có vốn đầu tư rất lớn đã được khởi công, từ các công trình trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng đến những dự án tiến gần mốc một triệu tỷ đồng của các tập đoàn kinh tế lớn. Điều đó cũng đặt ra vấn đề rằng tác động tích cực này dường như chưa lan tỏa tới nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và chúng ta cần nhìn nhận rõ để có các giải pháp phù hợp hơn trong thời gian tới”, TS Lê Duy Bình nhìn nhận.

Như vậy, để khu vực tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế như mục tiêu đặt ra, điều cần thiết không chỉ là các Nghị quyết hay cam kết chính sách, mà còn là khả năng thực thi nhất quán, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh cho mọi nhóm doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các lĩnh vực công nghệ cao. Chỉ khi đó, tinh thần của Nghị quyết 68 mới có thể chuyển hóa thành năng lực tăng trưởng bền vững và sức bật dài hạn cho nền kinh tế Việt Nam.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Nghị quyết 68-NQ/TW và hành trình kiến tạo động lực tăng trưởng mới
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO